14:28:17 | 22/3/2011
Để thực hiện thành công chiến lược tăng trưởng bền vững của nền kinh tế VN trong giai đoạn 2011-2020, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, cùng với việc giải quyết đồng bộ các giải pháp khác nhau, việc đẩy mạnh phát triển nền kinh tế tri thức là một định hướng rất quan trọng và có tính khả thi. Định hướng này cũng phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai.

4 trụ cột chính
Theo nhận định của WB, một quốc gia muốn chuyển sang nền kinh tế tri thức cần hình thành bốn trụ cột chính: Đó là giáo dục; phát minh sáng chế; cơ sở hạ tầng CNTT và truyền thông; hệ thống thể chế các chính sách kinh tế.
Căn cứ vào các chỉ số bình quân từ dữ liệu của 4 trụ cột này, WB đã đưa ra chỉ số về kinh tế tri thức KEI ( Knowledge Economy Index) nhằm đánh giá sự chuẩn bị của một đất nước để chuyển sang nền kinh tế tri thức. Tổng cộng có 81 tiêu chí được đưa ra so sánh tương quan 132 quốc gia, với điểm số kém nhất là 0 điểm đến điểm số cao nhất là 10 điểm. Theo chỉ số KEI, năm 2006. VN đạt 3,17 điểm, xếp hạng 96 trên 132 quốc gia. VN đang tụt lại phía sau hầu hết các nước Đông Á-THái Bình Dương (EAP) về chỉ số kinh tế tri thức. Điểm tổng các chỉ số của VN 3,17 so với bình quân của EAP là 6,61 điểm. Tuy nhiên, phải nhìn nhận VN đã cải thiện vị thế của mình đáng kể so với thời điểm năm 1995, khi VN chỉ đạt 2,62 điểm, cải thiện được 12 hạng.
Trong những năm qua, Chính phủ VN đã rất chú trọng đến giáo dục, coi giái dục là quốc sách. Đầu tư cho giáo dục từ ngân sách quốc gia cũng không ngừng tăng lên qua các năm. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì vẫn còn một khoảng cách. Tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng của VN chỉ đạt 16% so với mức trung bình là 38% của EAP. Căn cứ vào các số liệu hiện có của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc UNESCO thì vấn đề cơ bản trong tốc độ phát triển giáo dục của VN là ở sự trì trệ của tỷ lệ theo học đại học.
Mặt khác, để sự phát triển giáo dục có thể phát huy được hiệu quả thiết thực đối với sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thì còn rất nhiều yếu tố quan trọng khác. Đó là chính sách khuyến khích sáng tạo, cơ cấu trình độ đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển của trình độ kinh tế-xã hội, hiệu quả của các hoạt động khoa học- công nghệ, mối liên hệ giữa nhà trường và DN. Trong kinh tế học hiện đại, giáo dục cùng với tập hợp các yếu tố trên đây tạo nên một khái niệm , được gọi là năng suất yếu tố tổng hợp TFP ( Total Factor Productivity). Đó là một khái niệm mới dùng để đánh giá vai trò của sự tích luỹ tri thức trong tăng trưởng kinh tế, bên cạnh các tích luỹ tryền thống là vốn và lao động. Theo cách tiếp cận này, các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, nếu từ năm 1960 đến năm 2003, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc tăng 11 lần, đưa Hàn Quốc lên hàng các nước phát triển thì 72% sự tăng trưởng đó là do tích luỹ tri thức, trong đó sự phát triển giáo dục đại học đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế, tiềm ẩn đằng sau những số liệu về sự tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng là những dấu hiệu đáng lo ngại về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tỷ lệ đóng góp của TFP ngày càng giảm và chỉ còn khoảng 20% vào thời điểm hiên nay. Tình trạng này là đáng lo ngại vì chỉ số này của các nước trong khu vực là tương đối cao (Inđonêxia là 43%, Philipin là 41%, Thái Lan là 35%). Điều này cho thấy, nền giáo dục hiện nay của VN chưa giải quyết tốt bài toán về phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế.
Về phát minh sáng chế, cho dù đã được cải thiện nhưng VN vẫn có rất ít các phát minh sách chế. Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, năm 1973, 3 nước là Thái Lan, Singapore, VN có điểm xuất phát gần như nhau, nhưng đến năm 2000, số công trình được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế của VN chỉ bằng của Thái Lan và Singapore vào thời điểm năm 1980. Còn hiện nay, Thái Lan nhiều hơn VN đến 5 lần, Singapore nhiều hơn 12,5 lần trong khi các nhà khoa học ít hơn. Nếu để ý rằng VN có một đội ngũ hùng hậu với gần 2 triệu người làm khoa hoc công nghệ, hàng vạn thạc sĩ, tiến sĩ, gần 2000 giáo sư, gần 6000 phó giáo sư và hàng triệu cử nhân, kỹ sự thì mới thấy lĩnh vực phát minh sáng chế của VN còn thua xa ngay cả so với các nước trong khu vực Asean.
Một trong những chỉ số tăng mạnh nhất của VN trong 4 trụ cột của nền kinh tế tri thức là công nghệ thông tin và truyền thông, đạt 3,49 điểm ( so sánh với điểm bình quân của thế giới là 6,0 điểm, Malaysia 7,3 điểm, Singapore là 9,19 điểm). Tuy nhiên, vấn đề là lực lượng lao động CNTT của VN còn ít, chưa có kinh nghiệm. Trong 40 triệu công nhân VN, chỉ có 20.000 lao động trong lĩnh vực CNTT, trong khi chỉ có 3.500-4000 sinh viên tốt nghiệp với các bằng cấp CNTT hàng năm. Ngoài ra, khu vực ICT VN tiếp tục phát triển chậm nhất khu vực, chỉ số ICT Vn chỉ đạt 3,49 điểm so với 7,04 điểm của Châu Á- Thái Bình Dương.
Đáng chú ý nhất là công nghiệp phần mềm VN có tốc độ tăng trưởng trung bình trong vòng 10 năm qua là hơn 30%. Với việc tạo môi trường thuận lợi cho ngành CNTT, đặc biệt là phần mềm, VN hy vọng tới năm 2015 sẽ đào tạo được gần 1 triệu kỹ sư CNTT và mức tăng trưởng của ngành đạt trung bình từ 30 đến 40%, trở thành nhà cung cấp phần mềm thứ 3 thế giới, chỉ sau Ấn Độ và TQ. Với gia công phần mềm, theo tính toán của các chuyên gia, nếu vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng 40% hàng năm thì đến năm 2020, doanh số xuất khẩu của VN sẽ đạt 3,5 tỷ USD. Thị trường chính của phần mềm VN là Bắc Mỹ, Nhật bản và Châu Âu.
Tuy nhiên, theo đánh giá của của các tổ chức quốc tế, mặc dù tốc độ phát triể của CNTT và truyền thông của VN từ năm 2000 đến nay đều tăng ở mức 2 con số nhưng do điểm xuất phát thấp nên vị trí của VN trên bản đồ kinh tế tri thức thế giới vẫn còn ở mức trung bình thấp, thậm chí có chỉ tiêu như sự sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử còn xếp gần cuối bảng trong số nhiều nước xếp hạng.
Trong 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới và phát triển, hệ thống thể chế các chính sách kinh tế của VN đã được hoàn thiện từng bước. Báo cáo của WB trong mấy năm gần đây đều đánh giá kinh tế VN là một trong những nền kinh tế có thành tích tốt trong số các nước đang phát triển. Một trong những chính sách quan trọng góp phần tạo nên thành công đó, theo WB là phi tập trung hoá điều hành nền kinh tế, giảm nhẹ số DN NN và tăng DN khu vực tư nhân, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế theo định hướng thị trường với các cải cách nhằm làm cho khuôn khổ pháp lý trở nên minh bạch và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
Tuy nhiên, VN vẫn là một nước đang phát triển có thu nhập thấp và còn bị phàn nàn nhiều về tính minh bạch của các chính sách kinh tế, về nạn tham nhũng và về việc thực thi pháp luật.
Đầu tư hơn nữa cho giáo dục
Theo PGS. TS Hàn Viết Thuận, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, trong những năm tới, nhà nước phải đầu tư hơn nữa để phát triển giáo dục, đồng thời phải tiến hành một cuộc cải cách giáo dục thật sâu sắc và triệt để, bắt đầu từ những vấn đề căn bản về triết lý và mục tiêu của nền giáo dục VN. Đây là yếu tố quyết định nhất thúc đẩy VN đi nhanh vào kinh tế tri thức. Trong thời gian ngắn, theo ông Thuận, phải phổ cập giáo dục trung học cơ sở toàn quốc, phổ cập trung học phổ thông trong các thành thị, khu công nghiệp và vùng đồng bằng đông dân, tăng nhanh đào tạo tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý, các doanh gia, mở rộng quan hệ hợp tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ với nước ngoài; tuyển chọn đưa đi đào tạo ở các nước tiên tiến số lượng lớn cán bộ khoa học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực ưu tiên chiến lược.
Ngoài ra, phải phát triển và hoàn thiện hệ thống phát minh sáng chế. Thực tế trên thế giới cho thấy, không một quốc gia nào có thể đạt được một trình độ phát triển cao nếu không có một hệ thống quyền sở hữu tương đối tốt. Trước mắt, VN phải phát triển một hệ thống pháp lý chú trọng đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo Chỉ số quyền sở hữu quốc tế ( International Property Rights Index), trong số 125 nước được khảo sát trong năm 2010 trong đó có VN, chỉ số quyền sở hữu trí tuệ ở VN đứng ở mức rất thấp (80/125) so với các nước trong khu vực và việc giải quyết vấn đề này cần phải được quan tâm đứng mức hơn ở tầm quốc gia.
Theo ông Thuân, VN rất cần xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT và truyền thông. Quyết định số 246/2005-CP về chiến lược phát triển CNTT và truyền thông VN đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định 51/2007-CP của Chính phủ đã quy định những định hướng chiến lược cho sự phát triển của CNTT và truyền thông của VN trong giai đoạn 10 năm tới. Tuy nhiên, để thực hiện các định hướng chiến lược này trong thực tế thì vẫn phải tiếp tục nghiên cứu và thực hiện các chính sách cụ thể. Đó là chính sách về ưu đãi cho các DN trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng CNTT và truyền thông. Cụ thể là quy định cho thuê mặt bằng lập DN trong các khu công nghệ cao, quy định cho phép tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay ngân hàng, chính sách về xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm và dịch vụ CNTT phù hợp với lộ trình và cam kết hội nhập của VN.
Một vấn đề quan trọng trong việc phát triển cơ sở hạ tầng CNTT và truyền thông của VN là phát triển các khu công nghệ cao. Ngoài các khu đã có như Công viên phần mềm Sài Gòn, Quang Trung, Khu công nghệ cao Láng-Hoà Lạc, trung tâm phần mềm Hải Phòng, công viên phần mềm Đà nẵng, Trung tâm phần mềm Huế thì phải phát triển thêm các khu công nghệ cao mới ở khu vực phía Bắc, nhất là HN và Hải Phòng.
Đặc biệt. theo các chuyên gia, VN cần hoàn thiện hệ thống thể chế chính sách kinh tế. Trước hết và căn bản nhất là phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý ( thể chế, chính sách, luật pháp, bộ máy), nói theo thuật ngữ thông tin, đây chính là phần mềm hệ thống để vận hành xã hội. VN cũng phải tiếp tục tăng cường tính minh bạch của Chính phủ, đẩy mạnh một cách hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng. Nhà nước cũng cần tạo điều kiện cho người dân tham gia nhiều hơn vào quá trình lập chính sách, phát huy tinh thần tôn trọng pháp luật...
Trần Quang Thái