09:22:14 | 13/4/2011
Trước những biến đổi mạnh của nền kinh tế thị trường và tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm qua, các tác động theo chiều hướng xấu đến môi trường xuất hiện ngày càng nhiều, hành vi vi phạm pháp luật ngày càng đa dạng và phức tạp. Mặt khác, hệ thống pháp luật và chính sách về bảo vệ môi trường của Việt Nam còn thiếu, sau một thời gian áp dụng đã không còn phù hợp, tạo ra vướng mắc trong quá trình thực hiện.
![]() |
|
ảnh minh họa (nguồn Internet) |
Có thể nói Việt Nam đã xây dựng được một hành lang pháp lý khá đồng bộ từ các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho đến các chế tài xử lý nghiêm khắc, có tính răn đe, góp phần quan trọng thúc đẩy tiến độ xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên phạm vi cả nước.Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập trong các cơ chế, chính sách hỗ trợ cơ sở thực hiện xử lý triệt để ô nhiễm môi trường. Một số văn bản về chính sách đất đai đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần sửa đổi. Trước ngày 01 tháng 3 năm 2010, việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được áp dụng chủ yếu theo Nghị định số 81/2006/NĐ-CP, mức phạt thấp chưa có tính răn đe; đặc biệt, thiếu các quy định về biện pháp xử lý đối với cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng không hoàn thành đúng tiến độ của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Do đó, việc xử lý đối với các cơ sở này trong thời gian qua còn gặp nhiều lúng túng, chưa triệt để. Vấn đề này chỉ mới vừa được quy định trong Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Vấn đề nguồn vốn đầu tư cho công tác xử lý ô nhiễm triệt để vẫn là yếu tố quan trọng cần có những quy định rõ ràng cũng như cần sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chủ quản và các cấp ban ngành. Hiện nay bên cạnh việc hỗ trợ vốn từ ngân sách Trung ương để đầu tư xử lý các cơ sở gây ô nhiễm hoạt động phục vụ mục đích công ích thuộc trách nhiệm của Nhà nước, nhiều địa phương đã tự cân đối kinh phí, phân bổ vốn ngân sách địa phương để xử lý ô nhiễm đối với các cơ sở trên địa bàn. Bản thân các cơ sở gây ô nhiễm cũng đã phải chủ động đầu tư thực hiện xử lý ô nhiễm. Theo báo cáo của các địa phương, tính đến nay đã có 108 cơ sở tự đầu tư với tổng số kinh phí là 1.864,338 tỷ đồng. Việc tranh thủ nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức quốc tế cũng đã được quan tâm, đẩy mạnh với 20 dự án đã được hỗ trợ, có tổng kinh phí lên tới 607,314 tỷ đồng. Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam cũng đã hỗ trợ cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cho 12 dự án thuộc Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg với tổng kinh phí là 43 tỷ đồng. Việc xã hội hoá môi trường là điều cần thiết để thúc đẩy tiến độ xử lý triệt để các cơ sở vi phạm môi trường nghiêm trọng đem lại sự nhìn nhận đúng đắn trong công tác bảo vệ môi trường.
Từ năm 2006 đến nay Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thành lập hơn 30 đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành việc thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg trên phạm vi cả nước

Trong giai đoạn 01 của Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đến năm 2010, có 338 cơ sở đã hoàn thành các biện pháp xử lý không còn gây ô nghiễm môi trường nghiêm trọng, chiếm 77%, còn 101 cơ sở đang triển khai các giải pháp xử lý ô nhiễm(trong đó, 51 cơ sở thuộc khu vực công ích và 50 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ); có 35/62 tỉnh thành hoàn thành việc xử lý ô nhiễm triệt để ở mức trên 75%, 23 tỉnh hoàn thành ở mức 50%-75%, 04 tỉnh hoàn thành ở mức dưới 50% (riêng Lai Châu không có cơ sở nào gây ô nhiễm môi trường ngiêm trọng).
Trong giai đoạn 02 (2008 – 2012) các bộ, ngành tiến hành xử lý triệt để đối với 3.856 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng còn lại và các cơ sở khác mới phát sinh; qua đó, phấn đấu đến năm 2020, không còn cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Để đạt được mục tiêu trên, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải thực hiện đồng bộ 04 nguyên tắc cơ bản: thứ nhất, các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải bị xử lý nghiêm theo các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; thứ hai, Nhà nước tiếp tục có cơ chế, chính sách hỗ trợ để cơ sở thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm xử lý triệt để ô nhiễm môi trường; thứ ba, thực hiện đúng nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền”; thứ tư, phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước.
Có thể nói, mặc dù tiến độ xử lý đối với 439 cơ sở trong giai đoạn 1 của Kế hoạch chưa đạt được mục tiêu đề ra, song xét về mục tiêu tổng thể của giai đoạn này, VN đã cơ bản đạt được thông qua việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống các cơ chế, chính sách tương đối đồng bộ từ các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho đến các chế tài xử lý nghiêm khắc, có tính răn đe, góp phần quan trọng thúc đẩy tiến độ xử lý các điểm nóng về môi trường trên phạm vi cả nước. Đây được coi là một trong những kết quả thành công nhất của quá trình triển khai, thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian qua.
Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc nhằm đánh giá, kiểm điểm việc thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg về xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã đánh giá cao sự nỗ lực của các Bộ, ngành, địa phương trong việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đảm bảo môi trường sống trong lành cho người dân. Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành phối hợp với các địa phương tìm hiểu, nghiên cứu, tuyên truyền phổ biến các công nghệ xử lý rác thải không gây ô nhiễm môi trường; xây dựng các đề án xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện và xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm; giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng lồng ghép đề án xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong các chương trình, mục tiêu quốc gia, bảo đảm đến năm 2020 không còn cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Đỗ Ngọc
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)