Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng: Phát triển bền vững trong thời kỳ mới

01:01:37 | 9/5/2011

Trong những năm qua, hoạt động của các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã và đang góp phần quan trọng cải thiện đời sống, giải quyết các vấn đề xã hội, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng công nghiệp, dịch vụ; tham gia tích cực vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa;... Xung quanh chủ đề này, Phóng viên Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Thuyên – Trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng.

Xin ông cho biết về tình hình triển khai, thu hút đầu tư tại Khu kinh tế, các KCN trên địa bàn thành phố trong thời gian qua? Ông đánh giá như thế nào về số lượng cũng như chất lượng các nhà đầu tư đến với Hải Phòng?

Quá trình xây dựng, phát triển các Khu công nghiệp (KCN), Khu kinh tế (KKT) ở Hải Phòng có thể chia thành 02 giai đoạn. Giai đoạn 1, từ năm 1994 đến năm 2006, trên địa bàn thành phố có 03 KCN được thành lập và hoạt động: (KCN Nomura - Hải Phòng, Đình Vũ (giai đoạn I) và Đồ Sơn). Trong giai đoạn này, thu hút đầu tư bị ảnh hưởng lớn do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực và cuộc suy thoái kinh tế Nhật Bản. Giai đoạn 2, từ năm 2007 đến nay, đây là giai đoạn BQL tích cực tham mưu, đề xuất với thành phố điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển KCN Hải Phòng. Giai đoạn này, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các KCN Hải Phòng đến năm 2015 có 16 Khu với tổng diện tích đất xấp xỉ 10.000 ha,, đồng thời Quyết định thành lập KKT Đình Vũ - Cát Hải quy mô 21.640 ha; thành phố thành lập mới 07 KCN (đưa tổng số lên 10 khu). Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới năm 2008 gây nhiều khó khăn, tác động xấu đến việc thu hút đầu tư và hoạt động sản xuất - kinh doanh của KKT, các KCN. Tuy nhiên, các nhà đầu tư trong KKT, KCN đã từng bước khắc phục khó khăn để tiếp tục phát triển sản xuất, kinh doanh. Từ khi được thành lập đến hết năm 2010, KKT và các KCN đang hoạt động đã thu hút được trên 100 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và hơn 40 dự án có vốn đầu tư trong nước (DDI) với tổng số vốn đầu tư khoảng 6 tỷ USD.

Về chất lượng, các dự án trong Khu kinh tế đa số có vị trí quan trọng và quy mô lớn (về vốn đầu tư, diện tích đất sử dụng và tính chất lĩnh vực, ngành nghề hoạt động). Các dự án xây dựng cảng, nhà máy nhiệt điện, DAP, Khu đô thị- công nghiệp- dịch vụ (VSIP),… Các dự án ở trong các KCN, có một số dự án quy mô đầu tư từ 30 triệu đến 60 triệu USD, còn phần nhiều có quy mô trung bình (mức đầu tư từ 5 triệu đến 20 triệu USD). Các dự án đầu tư trong nước đa số chủ đầu tư là các tập đoàn lớn, tổng công ty có thương hiệu và năng lực cao, như: Tập đoàn hóa chất Việt Nam, Công ty cổ phần Gas Petrolimex,... Các dự án đều được triển khai ngay sau khi có Giấy chứng nhận đầu tư và hoạt động khá hiệu quả, nhiều dự án đã được tăng vốn và mở rộng quy mô, pham vị sản xuất kinh doanh. Hiện nay, Ban quản lý KKT Hải Phòng thực hiện chủ trương ưu tiên, khuyến khích thu hút các dự án quy mô lớn, sử dụng công nghệ hiện đại, sản xuất sản phẩm giá trị cao, có thương hiệu trên thế giới...

Hoạt động của các doanh nghiêp trong các KCN trên địa bàn thành phố có kết quả như thế nào, thưa ông?

Trong năm 2010, vượt lên những khó khăn, hầu hết các doanh nghiệp trong các KCN đã đạt được những kết quả nổi bật. Các doanh nghiệp FDI doanh thu đạt khoảng 1,2 tỷ USD, tăng 38% so với cùng kỳ năm trước; Xuất khẩu đạt 740 triệu USD, tăng 48%; Nộp ngân sách Nhà nước đạt 45 triệu USD tăng 35% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp DDI, doanh thu đạt 5200 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ, nộp ngân sách 350 tỷ đồng bằng 48% so với cùng kỳ năm trước.

(Tính lũy kế từ khi các doanh nghiệp KKT, KCN đi vào hoạt động đến nay, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,8 tỷ USD, nhập khẩu đạt 3,3 tỷ USD; nộp ngân sách Nhà nước hơn 122 triệu USD và 2650 tỷ đồng; thu hút 30.000 lao động Việt Nam, chuyên gia nước ngoài vào làm việc).

Ông đánh giá như thế nào về vai trò động lực của KKT, KCN Hải Phòng với phát triển kinh tế xã hội của thành phố?

Sự hình thành và phát triển KKT, các KCN của Hải Phòng có ý nghĩa hết sức to lớn, có vai trò quan trọng và đóng góp tích cực trong việc tăng nguồn vốn đầu tư, mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, mở rộng và nâng cao thị trường... ; thúc đẩy phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội; kích thích phát triển dịch vụ và các loại thị trường; tạo việc làm và nâng cao trình độ kỹ thuật, quản lý cho người lao động, góp phần cải thiện đời sống, giải quyết các vấn đề xã hội; tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng công nghiệp, dịch vụ; tham gia tích cực vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là một trong những khâu đột phá phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy nền kinh tế thị trường, tăng cường công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, mở rộng không gian kinh tế, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại của Hải Phòng; là một trong những giải pháp thực hiện mục tiêu chiến lược đưa Việt Nam trở thành một “quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển’’ như Nghị quyết 09/NQ-TW Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đặt ra.

Đâu là những nhân tố then chốt mang đến những thành công của KKT và các KCN của Hải Phòng?

Trước hết, đó là tính ưu việt của mô hình KKT, KCN so với các địa bàn khác. Ở đây có mặt bằng sạch, cơ sở hạ tầng thiết yếu (điện, nước, hệ thống dẫn nước thải, nhà máy xử lý nước thải, thông tin liên lạc); có cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư, được cung cấp các dịch vụ hành chính công, dịch vụ hỗ trợ khác đầy đủ, kịp thời, sự lãnh đạo, chỉ đạo và ủng hộ của Chính phủ, các cơ quan Trung ương, thành phố và nhân dân đối với xây dựng, phát triển KKT, các KCN.

Ban quản lý KKT Hải Phòng - đơn vị quản lý Nhà nước trực tiếp KKT, các KCN luôn nâng cao trách nhiệm và tinh thần phục vụ các nhà đầu tư, tích cực hoạt động xúc tiến đầu tư, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giúp đỡ các chủ doanh nghiệp nắm vững chính sách, pháp luật và tạo điều kiện cho họ được hưởng đầy đủ các ưu đãi được pháp luật quy định; hỗ trợ hiệu quả các doanh nghiệp trong việc tuyển chọn, quản lý, sử dụng lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định; thường xuyên nắm bắt tình hình, phối hợp với các sở, ban, ngành các cấp của thành phố giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư theo cơ chế “một cửa tại chỗ’’ thuận tiện với các quy trình thủ tục rõ ràng, đơn giản, tiết kiệm thời gian, đúng quy định của Nhà nước.

Nguyễn Trung