Năm 2010, Việt Nam áp dụng giải pháp gì để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 6,5% được Chính phủ đề ra trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều dấu hiệu bất ổn? "> Năm 2010, Việt Nam áp dụng giải pháp gì để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 6,5% được Chính phủ đề ra trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều dấu hiệu bất ổn? " /> “Lựa chọn chính sách tài chính tiền tệ sau khủng hoảng...”

“Lựa chọn chính sách tài chính tiền tệ sau khủng hoảng...”

11:23:39 | 19/3/2010

Năm 2010, Việt Nam áp dụng giải pháp gì để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 6,5% đã được Chính phủ đề ra trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều dấu hiệu bất ổn? Xung quang vấn đề này, VBF đã có cuộc trao đổi với TS. Vũ Đình Ánh-Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính).

Ông có nhận xét gì về bức tranh kinh tế thế giới hiện nay và khả năng phục hồi của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2010 này?

Theo dự báo của IMF, kinh tế toàn cầu sẽ chuyển sang tăng trưởng 3,1% vào năm 2010 sau khi đã suy giảm 1,1% năm 2009. Riêng tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế đang phát triển được cải thiện đáng kể từ mức 1,7% (2009) lên 5,1% (2010), trong đó, Việt Nam được dự báo tăng trưởng khoảng 6%. Đây là dự báo đáng khích lệ, ghi nhận đối với những thành công của Việt Nam đạt được trong năm 2009. Tuy nhiên, qua các thông tin nghiên cứu có được cho thấy, kinh tế thế giới 2010 còn tiềm ẩn nhiều bất ổn, đặc biệt là những khó khăn trong thương mại, biến động tỷ giá hối đoái của các đồng tiền chủ chốt và khủng hoảng nợ do thâm hụt ngân sách của nhiều nước lên cao sau khi ồ ạt kích thích kinh tế trong năm 2009. Trên bối cảnh gập ghềnh nêu trên, rõ ràng Việt Nam không thể chủ quan mà phải nỗ lực hơn rất nhiều và mục tiêu đạt tăng trưởng kinh tế 6,5% đề ra là không đơn giản.

Qua 2 tháng đầu năm nền kinh tế Việt Nam cũng đang đặt ra 2 thách thức vĩ mô cần sớm có giải pháp kịp thời. Một là, lạm phát cao có nguy cơ quay trở lại, trong 2 tháng của năm 2010, chỉ số CPI đã tăng 3,35% so với cuối năm 2009. Hai là, vấn đề thâm hụt cán cân thương mại chưa được giải quyết. Nhập siêu 2 tháng đã là 1,75 tỷ USD, gần bằng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Trong nền tảng đảm bảo cho sự phát triển kinh tế Việt Nam bền vững, ông quan tâm đến yếu tố nào?

Tôi cho rằng Việt Nam cần quan tâm đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu nhiều ngành kinh tế chậm thay đổi. Mô hình tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong khi chuyển dịch cơ cấu hàng hoá và thị trường xuất khẩu còn hạn chế. Cơ cấu xuất nhập khẩu chưa chuyển dịch để đảm bảo tăng quy mô thương mại bền vững và hiệu quả. Trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, tỷ trọng sản phẩm khai khoáng và thô vẫn chiếm ưu thế trong khi nhóm hàng công nghiệp nhẹ vẫn là gia công, giá trị gia tăng thấp.

Đáng chú ý là, ổn định kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc, từ 2001 lạm phát có xu hướng tăng, đặc biệt có những cú sốc gây ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô vào các năm 2004, 2007-2008 và đang có dấu hiệu tăng trở lại trong năm 2010. Quan trọng hơn, chỉ số giá của những hàng hoá dịch vụ thiết yếu lại tăng cao hơn CPI chung nên đã tác động trực tiếp tới thu nhập thực tế và đời sống của một bộ phận lớn người dân trong xã hội.

Điều đáng quan ngại nữa là thâm hụt cán cân thương mại. Tuy xuất khẩu có những tiến bộ vượt bậc về kim ngạch song do những hạn chế về cơ cấu, mô hình phát triển xuất khẩu và hạn chế trong kiểm soát nhập khẩu nên nhập siêu đã kéo dài. Mục tiêu kiểm soát nhập khẩu để đẩy thâm hụt thương mại xuống dưới mức 10% GDP và dưới 20% tổng kim ngạch xuất khẩu là rất cấp thiết để ổn định vĩ mô, đồng thời tạo tiền đề và động lực để cơ cấu lại nền kinh tế, rút ngắn thời gian tiến tới cân bằng cán cân thương mại.

Thực tế năm 2009 vừa qua cho thấy, mỗi một quốc gia đều có những giải pháp để phục hồi nền kinh tế của mình. Đối với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, theo ông sự lựa chọn nào là phù hợp nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra?

Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của Việt Nam hiện nay vẫn là tăng trưởng kinh tế, chính vì vậy lựa chọn chính sách tài khoá phù hợp là điều rất hệ trọng. Đối với sử dụng ngân sách, thiết nghĩ, trọng tâm trong ngắn hạn của chính sách tài khoá là giữ vững mức động viên vào ngân sách Nhà nước khoảng 1/4GDP; giảm mức độ thâm hụt ngân sách trong lộ trình tiến tới cân bằng cán cân ngân sách trong dài hạn.

Trong lựa chọn chính sách tiền tệ, tính linh hoạt và tính thị trường của chính sách tiền tệ cần được phát huy để thực hiện đồng thời cả hai mục tiêu then chốt này. Một mặt, tăng tổng tín dụng vẫn đã, đang và sẽ là nhân tố then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khi các kênh tài chính khác cho doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Thực tế cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có quan hệ hữu cơ với mở rộng tín dụng. Mặt khác, mức độ ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt lạm phát ở Việt Nam cũng có quan hệ biến chứng với tốc độ tăng tín dụng tuy có một độ trễ nhất định. Chính vì vậy, không nhất thiết phải kìm giữ tốc độ tăng tín dụng năm 2010 ở mức 25% mà có thể lên mức 30% song vấn đề quan trọng là hướng nguồn vốn tín dụng tới những khu vực kinh tế thật sự có hiệu quả trong trung và dài hạn, tránh chạy theo hiệu quả kinh tế ngắn hạn (chứng khoán, bất động sản, ngoại tệ mạnh) có thể tạo ra “bong bóng” và gia tăng nợ xấu.

Chính sách lãi suất cũng cần được áp dụng linh hoạt và theo cơ chế thị trường. Lãi suất cơ bản, tái chiết khấu và tái cấp vốn được điều chỉnh linh hoạt kết hợp với nghiệp vụ thị trường mở để giải quyết đồng thời hai bài toán, đảm bảo nguồn vốn có “giá cả” hợp lý để doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, ngăn chặn nguy cơ tăng trưởng nóng và kiềm chế được lạm phát. Trong năm 2010, Việt Nam cần sử dụng lãi suất cơ bản (theo đó là trần lãi suất cho vay) như một công cụ quyết định để kiểm soát tổng tín dụng, thị trường tín dụng ngân hàng (huy động tiền gửi và cho vay) và cả thị trường liên ngân hàng theo đúng các nguyên tắc thị trường.

Ngọc Linh