Năm 2009, Việt Nam chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập thấp, trở thành nước có mức thu nhập trung bình theo cách phân loại của WB (GDP bình quân đầu người đạt trên 1000 USD). Đây là thời mốc quan trọng và mở ra nhiều cơ hội phát triển cho kinh tế Việt Nam.

Tuy nhiên, theo đánh giá chung của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, tăng trưởng mà Việt Nam có được trong hơn 15 năm qua phần lớn là do tác động của tự do hoá đúng thời điểm. Liệu Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững, dần bước vào nhóm các nước có thu nhập cao như Hàn Quốc và Đài Loan đã làm được trong thời gian qua, hay lại bước theo vết xe đổ của một số quốc gia lân cận sau một thời gian dài chưa thể thoát ra khỏi mức thu nhập trung bình sau khi đạt được nó? Điều này sẽ được giải quyết nếu Việt Nam thực hiện được một chính sách công nghiệp tiên phong.
Tại hội thảo khoa học quốc tế về “Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam ” do Trường đại học kinh tế quốc dân (NEU), Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) tổ chức vừa qua tại Hà Nội, GS.TS Kenichi Ohno, Tổng giám đốc VDF cho biết, đã có những ví dụ điển hình cho việc mắc kẹt bẫy thu nhập trung bình như Thái Lan, Malaysia… Trong khu vực Asean, Malaysia có GDP bình quân đầu người là 7.750 USD ( theo số liệu sơ bộ của quốc gia năm 2009) và Thái Lan có GDP bình quân đầu người là 3.973 USD ( theo ước tính của Quỹ tiền tệ quốc tế năm 2009). Tuy nhiên, trải qua rất nhiều năm nhưng 2 quốc gia này vẫn chưa thể có bước tăng trưởng mạnh để trở thành nước có thu nhập cao.
Hiện nay, sự phát triển của Việt Nam đã và đang được xem là có rất nhiều vấn đề tương đồng như các quốc gia này, và nếu tiếp tục phát triển như những gì Việt Nam đã và đang làm, rất có thể Việt Nam mãi là quốc gia "đang phát triển”. Bài học từ các quốc gia thoát khỏi mức thu nhập trung bình là “chính sách tốt” và “sự năng động của khu vực tư nhân”.
Những lỗ hổng trong xây dựng chính sách công nghiệp chủ động…
Theo GS Kenichi, đối với Việt Nam, đổi mới phương pháp hoach định chính sách là yếu tố quan trọng hàng đầu để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Việt Nam đã đạt đến giai đoạn phát triển mà tăng trưởng hoàn toàn có thể bị chậm lại nếu quy trình hoạhc định chính sách không được đổi mới một cách toàn diện nhằm phát huy hết tiềm năng của đất nước. “Tiếp tục phát triển lên mức thu nhập cao chỉ đạt được khi mọi người cùng nâng cao năng lực và làm việc chăm chỉ. Tăng trưởng chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên, luồng vốn FDI hay lợi thế vị trí địa lý thì sớm muộn cũng sẽ đến hồi kết. Do đó cần phải có chính sách công nghiệp chủ động (proactive) để tháo gỡ rào cản này”, GS Kenichi nói .
Việt Nam đã có tầm nhìn dài hạn là trở thành nước công nghiệp hóa và hiện đại hóa vào năm 2020. Vì vậy điều quan trọng , theo GS Kenichi là Việt Nam phải xây dựng sớm nhất có thể một lộ trình công nghiệp hóa rõ ràng, công bố và hướng dẫn cho dân chúng, nhà đầu tư, các nhà hoạch định chính sách về lộ trình đó; cần phải khẳng định rằng chính khu vực tư nhân chứ không phải nhà nước hay các tập đoàn nhà nước là động lực cho sản xuất và đầu tư. Việt Nam cũng cần phải làm rõ các định hướng chính sách trong các lĩnh vực như huy động tiết kiệm, phát triển tài chính, sử dụng nguồn lực nước ngoài, khoảng cách thu nhập, các vấn đề xã hội nảy sinh và các ngành chịu nhiều sức ép cạnh tranh từ bên ngoài.
Hiện nay, Việt Nam chưa có một quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp. Phần nội dung đề cập tới phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm và Chiến lược 10 năm đã không đưa ra một tầm nhìn công nghiệp nhất quán. Hậu quả là nhiều câu hỏi chính sách quan trọng vẫn chưa được trả lời, trong đó có câu hỏi về vai trò của các doanh nghiệp nhà nước, các công ty tư nhân và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong tương lai; về sự lựa chọn giữa định hướng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu trong giai đoạn hội nhập ngày càng sâu sắc; về phạm vi và quy mô của hỗ trợ chính thức dành cho các ngành công nghiệp mới nổi và suy thoái. Quy hoạch phát triển ngành của các ngành như thép, ô tô, xe máy, điện tử, dệt may và các ngành công nghiệp khác hiện vẫn đang trong quá trình dự thảo và thông qua mà không có các nguyên tắc chung được chỉ đạo từ cấp cao hơn. Chưa kể là đầu tư tư nhân và viện trợ chính thức đổ vào mà không biết chính xác Việt Nam sẽ ở đâu trong một vài thập kỷ tới.
… và yếu kém trong hoạch định chiến lược
Theo GS Kenichi, thất bại của Việt Nam trong việc hoạch định các chiến lược và kế hoạch phát triển ngành một cách hiệu quả chủ yếu là do những yếu kém về cơ cấu trong quá trình hoạch định chính sách. Quá trình hoạch định chính sách ở Việt Nam là di sản của thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, vì thế không thế đối phó hiệu quả với những vấn đề mới của thời đại cạnh tranh toàn cầu. Sau giai đoạn tăng trưởng vào những năm 1990 và đầu những năm 2000, nhờ tự do hoá nền kinh tế và nguồn vốn lớn chảy vào từ bên ngoài, Việt Nam đã đạt tới ngưỡng mà từ đây để tiến lên mức thu nhập cao hơn sẽ gặp phải nhiều khó khăn hơn nếu không có những cải cách căn bản trong quy trình và tổ chức hoạch đinh chính sách.
Có rất nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạch định chính sách công nghiệp ở Việt Nam. Vấn đề nghiêm trọng nhất về quy trình nảy sinh trong quá trình thiết kế và thực hiện các chiến lược và kế hoạch hành động công nghiệp là thiếu sự tham gia của cộng đồng kinh doanh và thiếu sự phối hợp liên bộ khiến cho chính sách được thông qua kém hiệu quả, thậm chí không thể triển khai thực hiện được.
Quá trình hoạch định chính sách ở Việt Nam gần như chỉ thuộc phạm vi của Chính phủ với sự tham gia rất nhỏ của các bên liên quan. Nếu một công ty trong nước hoặc nước ngoài muốn nêu quan điểm của mình thì họ phải tự tìm cách tiếp xúc với các quan chức vì cơ chế hiện hành không cho phép sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào quá trình hoạch định chính sách. Mặc dù việc lắng nghe ý kiến doanh nghiệp trở nên phổ biến trong mấy năm gần đây song nội dung dự thảo chi tiết không được công bố trong các buổi lắng nghe này, do đó doanh nghiệp chỉ có thể đưa ra những yêu cầu chung mà không rõ về từng vấn đề cụ thể.
Một vấn đề về quy trình khác là thiếu hợp tác liên bộ trong quá trình hoạch định chính sách và triển khai chi tiết do thiếu một cơ chế buộc các bộ phận khác nhau phải cùng làm việc với nhau….
Chính sách công nghiệp tiên phong
Để phá vỡ được bẫy thu nhập trung bình, theo GS Kenichi, Việt Nam nên sử dụng “chính sách công nghiệp tiên phong”. Hợp phần chủ đạo của chính sách này là chấp nhận cơ chế thị trường và toàn cầu hoá, tinh thần học hỏi linh hoạt của cả Chính phủ và khu vực tư nhân, và mối tương tác phức tạp và không ngừng thay đổi giữa 2 khu vực. Vì thế, chính sách công nghiệp tiên phong, ngoài việc nhấn mạnh phát triển theo cơ chế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc xây dựng nhà nước mạnh là điều hết sức cần thiết. Nhà nước phải đảm đương vai trò vững chắc và chủ động trong việc xây dựng định hướng và hỗ trợ phát triển, mặc dù mọi hoạt động sản xuất về nguyên tắc chủ yếu là do khối tư nhân thực hiện. Bên cạnh đó, Việt Nam cần nâng cao năng lực chính sách và tính năng động của khu vực tư nhân, cả 2 yếu tố còn yếu trong thời kỳ đầu phát triển, phải được chú trọng trong quá trình hoạch định chính sách công nghiệp. Chính sách phải xác định được những mục tiêu cụ thể và hướng tới việc tăng cường những điểm mạnh hiện có hơn là cải thiện quản lý hay năng lực nói chung mà không có các mục tiêu cụ thể.
Ngoài ra, cách thức cơ bản để tiến hành công nghiệp hóa thành công là phải nội lực hoá được kỹ năng và công nghệ có trong nguồn vốn con người. Đặc biệt, nhằm tránh đánh giá sai chính sách và ảnh hưởng chính trị, Chính phủ phải tích luỹ đủ kiến thức về những ngành công nghiệp mà mình muốn can thiệp. Kiến thức ban đầu có thể có được từ các chuyên gia, học giả hay các nhà tài trợ, nhưng chỉ khi người lập chính sách lĩnh hội được thì chất lượng chính sách công nghiệp mới được đảm bảo…
Quynh Chi