09:25:50 | 23/9/2011
Sự biến động về giá của các mặt hàng như xăng, dầu, than, điện đã ảnh hưởng trực tiếp tới các mặt hàng thiết yếu. Trong đó nóng nhất và được nhiều người quan tâm nhất là các sản phẩm thép. Trong thời kỳ khủng hoảng và lạm phát đang ở mức báo động, đầu ra của các doanh nghiệp thép đang chững lại trong khi đó tiền lãi suất ngân hàng vẫn chưa có những cải thiện đáng kể.
Hệ quả bất hợp lý quy hoạch
Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), hiện lượng thép tồn kho hiện đang ở mức cao, gần 500.000 tấn, trong khi bình quân lượng tồn kho ở mức cho phép khoảng 250.000 tấn. Đây là số lượng thép tồn lớn hơn mức bình thường. Chính vì vậy, có nhiều nhà máy thép chỉ vận hành 50- 60% công suất, thậm chí phải ngừng sản xuất.

Với mức tồn kho trên, theo tính toán của VSA, mức lãi mà các doanh nghiệp thép phải trả là khoảng gần 150 tỷ đồng/tháng. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên của ngành thép là do tình hình lạm phát trong nước tăng cao. Chính phủ vẫn phải áp dụng nhiều biện pháp để kiềm chế, trong đó có việc thực hiện chính sách cắt giảm đầu tư công, tạm dừng, hoãn các công trình chưa thật cần thiết làm cho thị trường BĐS năm 2011 đã thực sự rơi vào tình trạng đóng băng. Tình trạng đóng băng của thị trường BĐS là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng tê liệt của thị trường thép trong thời gian qua.
Trong khi thị trường thép gặp khó khăn về đầu ra thì doanh nghiệp ngành thép còn găp những khó khăn do chi phí vốn quá cao, giá các vật tư nhiên liệu đầu vào hiện cũng đều tăng ở mức 2 con số, giá than tăng 41% từ đầu tháng 4/2011; giá xăng dầu tăng từ 32- 43%; giá điện tăng 15,28%. Kể từ đầu năm giá nguyên liệu đầu vào của ngành thép như quặng sắt, than cốc, phôi thép và thép phế tăng hoặc giữ ở mức giá cao hơn năm 2010 từ 20- 30%.
Từ những khó khăn trên, nguyên nhân được nhắc đi nhắc lại nhiều lần lại là ván đề quy hoạch ngành thép. Sự bất hợp lý trong vấn đề quy hoạch đang là lực cản cho sự phát triển của ngành. Hiện nay cả nước có 32 dự án thép nằm ngoài quy hoạch, trong đó hơn 20 dự án là địa phương cấp sai thẩm quyền. Hải Phòng, Bà Rịa- Vũng Tàu… là những địa phương tập trung các nhà máy thép nhiều nhất cả nước, còn các địa phương vùng sâu, vùng xa cứ có chút mỏ quặng là họ làm thép như Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái… đều có những dự án được cấp phép.
Trong khi sức tiêu thụ thép trong nước ảm đạm, để giải quyết bài toán tồn kho, xuất khẩu là hướng đi mà các doanh nghiệp thép đang tính đến hiện nay. Hiện các dự án sản xuất thép xây dựng, ống thép, thép cán nguội, thép mạ kim loại và tôn phủ màu đã dư thừa công suất gần gấp đôi so với nhu cầu nên kiên quyết không cấp thêm giấy phép đầu tư ít nhất cho 5 năm tới. Ưu tiên các dự án đầu tư các nhà máy thép sản xuất các sản phẩm thép Việt Nam còn phải nhập khẩu với số lượng lớn như thép tấm, thép cuộn cán nóng, thép chất lượng, thép chế tại… để giảm bớt nhập siêu.
Điều chỉnh sản xuất
Đứng trước những khó khăn, các doanh nghiệp ngành thép cũng đã có những điều chỉnh để phù hợp với tình hình, sản xuất thép xây dựng đã bắt đầu giảm. Theo số liệu thống kê của VSA, trong tháng 8, sản xuất thép xây dựng của các công ty thành viên VSA đạt 437.968 tấn, so với cùng kỳ năm trước lại giảm 7,23%. Lượng bán ra đạt 483.249 tấn, tăng 34,53% so với tháng trước, giảm 0,76% so với cùng kỳ năm 2010.
Về lượng tồn kho, VSA mới nắm được con số của các đơn vị sản xuất thành viên là 375.151 tấn, số lượng này cao hơn tháng trước một chút. Bình thường tồn kho thép xây dựng trong sản xuất ở mức 200.000- 250.000 tấn/tháng, nhưng những tháng gần đây, mức tồn kho sản xuất thường gấp đôi con số trên, dao động trên dưới 400.000 tấn.
Đánh giá về diễn biến của tình hình thị trường, ông Phạm Chí Cường- Chủ tịch VSA cho rằng: “Đó có thể là một tín hiệu khả quan. Việc tăng tiêu thụ trong tháng 8 theo tôi có hai lý do: Thứ nhất, tháng 7, trước tình hình thị trường khó khăn, hệ thống thương mại đã dừng mua vào, chỉ tiêu thụ hết lượng tồn kho của họ. sang tháng 8, tồn kho lưu thông giảm nhiều, trong khi giá phôi thép thế giới có xu hướng tăng lên 20- 25 USD/tấn nên họ quyết định mua vào. Thứ hai, thường cuối năm là mùa xây dựng, các công trình dân dụng và công trình nhà nước đang cố gắng hoàn thành kế hoạch nên cũng kích thích đầu ra của ngành thép. Tuy nhiên, nhu cầu có bền vững hay không còn phụ thuộc vào những điều chỉnh của kinh tế vĩ mô, vào những chính sách tạo điều kiện tiếp cận vốn ngân hàng cho sản xuất cho ngành thép.”
Hầu hết các nhà máy thép đều ghìm bớt sản xuất để tránh tình trạng tồn kho, nơi làm 3 ca thì giảm còn 2 ca, đồng thời tìm mọi biện pháp tiêu thụ. Mặc dù giá nguyên liệu nhập khẩu tăng lên nhưng giá bán thép xây dựng trong nước vẫn giữ nguyên. Dù không công khai tuyên bố giảm giá, nhưng thực tế các doanh nghiệp đã giảm bằng nhiều hình thức, như không tính phí vận chuyển cho đại lý hoặc các khách hàng lớn, cho thanh toán sau mà không tính lãi…- Ông Cường nói.
Một số doanh nghiệp, đủ điều kiện về chất lượng tìm cách xuất khẩu. Xuất khẩu 8 tháng đã đạt hơn 1 triệu tấn, đạt gần khoảng 1 tỷ USD. Năm nay, dự tính lường và giá trị xuất khẩu có thể bằng và hơn năm 2010. Song ông Cường cũng cho rằng: “Khủng hoảng chính là bài học, là cơ hội để chọn lọc, buộc ngành thép phải cơ cấu, doanh nghiệp nào sống khỏe sẽ tồn tại và tiếp tục phát triển, còn những doanh nghiệp đầu tư không đúng hướng sẽ bị “chôn vùi” với nợ ngân hàng và sẽ bị đào thải khỏi ngành thép. Đó là quy luật”.
Đình Thanh
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)