Tính bài cạnh tranh mới

10:35:03 | 20/10/2011

Khi lãi suất được cào bằng bằng quyết định khống chế trần 14%/năm của ngân hàng nhà nước (NHNN), các THTM không thể cạnh tranh huy động vốn chủ yếu bằng lãi suất như xưa nay. Dòng vốn đang chảy từ các NH nhỏ, kém uy tín sang các ngân hàng (NH) lớn hơn. Muốn tồn tại, đây là thời điểm mà các NH buộc phải nâng cao sức cạnh tranh thay vì chạy đuổi theo các cuộc đua lãi suất

Thực tế là nhiều người gửi tiền quyết định chọn NH lớn nên nhiều NH nhỏ đang kêu tình trạng người gửi tiền rút vốn trong những ngày qua. Hàng chục nghìn tỷ đồng của sự dịch chuyển này được công khai là một minh chứng.

Tuy nhiên, trong khó khăn nhiều NH nhỏ đang vận động mạnh mẽ, gia tăng chất lượng dịch vụ, cải thiện hình ảnh trong mắt khách hàng. Trong nhiều trường hợp, lợi thế cạnh tranh không phải bao giờ cũng thuộc về NH lớn.

Nhìn bề nổi, có thể thấy ngay lợi thế so sánh của các NH quy mô lớn, với bề dày hoạt động nhiều năm, bộ máy nhân sự lớn, trụ sở bề thế ở trung tâm, mạng lưới rộng khắp… cùng với đó là các lợi thế về nguồn vốn, giải ngân theo chương trình hợp tác, cùng những ưu đãi khác. Cũng chính vì vây, các NH này có lợi thế về uy tín trong kinh doanh, nên mặc dù luôn có mức lãi suất huy động thấp hơn các NHTMCP nhỏ, nhưng nguồn vốn họ huy động được luôn chiếm ưu thế.

VN hiện có có khoảng 100 NH, nhưng có tới 80% thị phần tín dụng thuộc về 12 NH lớn, trong đó 4 NHTMQD thuộc sở hữu Nhà nước hoặc đã được cổ phần hóa một phần là BIDV, Agribank, Vietcombank, Vietinbank. 4 “ông lớn” này chiếm tới 48,3% tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống. Đối tượng tín dụng của các NH này là các tập đoàn, tổng Cty Nhà nước. 37,1% thị phần tín dụng còn lại thuộc về top đầu của các NHTMCP với cơ cấu cổ đông đa dạng, khách hàng truyền thống là các DNNVV và một phần nguồn thu từ các hoạt động ngân hàng bán lẻ.

Tuy nhiên, có những sự chuyển dịch âm thầm trong cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt trong hệ thống NH. Nhiều DN bên cạnh các tài khoản mở tại NH lớn, đã mở thêm tài khoản ở các NH nhỏ hơn. “NH lớn thì 4 giờ chiều là khoá sổ, trong khi NH nhỏ phục vụ tới 5-6 giờ chiều, thậm chí còn muộn hơn nếu chúng tôi buộc phải trả tiền để tránh phạt lãi suất”, chị Hồng Hạnh, kế toán trưởng một công ty thức ăn gia súc chia sẻ. Bên cạnh đó, rất dễ nhận ra thái độ phục vụ của nhân viên các NH nhỏ niềm nở, hoà nhã, tận tình hơn. Tại các phòng giao dịch của ACB vừa có thêm nhân sự lễ tân, chỉ để chào và hướng dẫn khách tới giao dịchKhách vào cửa đã có người đón, trà nước tận tình. Cách đây vài tháng, Standard Chartered còn gây chú ý khi mở cơ chế tự phạt, tự trích tiền sung quỹ từ thiện nếu để khách hàng chờ giao dịch quá 8 phút…

Mấy năm vừa qua các NH đã bung ra số lượng chi nhánh lớn. Các NH nhỏ cũng tỏ ra nhanh nhạy hơn khi thành lập các phòng giao dịch nhỏ phục vụ dân cư. Cơ sở vật chất khang trang và thân thiện đang gây nhiều thiện cảm với người giao dịch.

Bà Đặng Tuyết Dung, Giám đốc Khối Dịch vụ Ngân hàng Tài chính Cá nhân của Techcombank cho biết: Qua quá trình tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, Techcombank quyết định lựa chọn hai yếu tố là “Dịch vụ” và “Tiện ích” làm kim chỉ nam cho hoạt động bán lẻ. Đây là những giá trị định vụ rất khó nhưng là cách tốt nhất để đem đến cho khách hàng dịch vụ tốt nhất để từ đó có được sự tin tưởng và yêu mến của khách hàng.

Ông Trần Anh Tuấn, Tổng giám đốc Ngân hàng Hàng Hải (Maritime Bank), cũng nói rằng: “Khi lãi suất được cào bằng, người dân có tâm lý chuyển vốn nhàn rỗi gửi vào các NH lớn mà họ cảm thấy đáng tin cậy hơn. Tất nhiên các NH nhỏ hơn sẽ khó khăn vất vả hơn ở giai đoạn này, nhưng họ hoàn toàn có thể giành lại lợi thế nếu tìm ra được biện pháp thích hợp để củng cố niềm tin của khách hàng vì khách hàng luôn tìm hiểu rất kỹ khi lựa chọn, không bao giờ chọn ngẫu nhiên một đơn vị để gửi gắm đồng vốn của mình”.
Các NH tính đến việc gia tăng giá trị cho khách hàng chứ không chỉ đơn thuần đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Như Techcombank đặt vấn đề tối ưu hoá giá trị nguồn vốn của DN dựa trên các khía cạnh: thu tiền nhanh nhất, thanh toán nhanh và chính xác nhất, tối đa hóa doanh thu qua các kênh đầu tư và quản lý thông tin chính xác nhất theo nhu cầu. Điều này có nghĩa là giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm các chi phí vay vốn cho các nhu cầu tới hạn như thanh toán cho nhà cung cấp, trả nợ hợp đồng, cũng có nghĩa là nâng cao chất lượng dịch vụ của NH.


Các NH đua thiết kế các gói tiết kiệm sao cho khách hàng có lợi nhất, cùng một số tiền trong cùng một thời gian ở NH sẽ mang lại cho DN nhiều lãi nhất. DN hiện có khá nhiều lựa chọn đầu tư như tài khoản lãi suất tầng, đầu tư nhanh, tiết kiệm tự động và tiền gửi có kỳ hạn.

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đặc biệt ở lĩnh vực ngân hàng bán lẻ cạnh tranh ngày càng sôi động. Nhiều sản phẩm, dịch vụ mới được các ngân hàng nghiên cứu, phát triển. Như đối với sản phẩm cho vay, khách hàng được đáp ứng nhu cầu với rất nhiều loại hình dịch vụ khác nhau như: vay vốn để sản xuất kinh doanh, vay để mua - sửa nhà, vay tiêu dùng, mua xe, vay du học… Các sản phẩm thẻ cũng rất đa dạng, ngoài các loại thẻ thanh toán nội địa còn có thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng quốc tế, thẻ đồng thương hiệu dành cho khách hàng của ngân hàng và đối tác, thẻ đa năng,..

Bên cạnh đó, NH còn đưa ra các trương trình khuyến mãi, chăm sóc khách hàng thường xuyên, tặng quà giá trị, tặng các chuyến du lịch nước ngoài… Việc triển khai các chương trình chăm sóc KH thay vì chỉ đơn thuần đầu tư vào công tác marketing, cho thấy các NH đã hướng tới cộng thêm các giá trị gia tăng dài hạn ngoài lợi ích trực tiếp từ việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ NH.

Khi các NH nhỏ nhìn thấy rõ ràng họ yếu thế hơn các NH quy mô lớn, họ sẽ tự vận động để nâng cao sức cạnh tranh của mình theo chiều sâu, cải thiện chất lượng dịch vụ, mang đến cho khách hàng cảm giác thoải mái, yên tâm. Họ cũng sẽ chú trọng hơn khâu tư vấn và chăm sóc khách hàng, về lâu về dài đây sẽ là lợi thế cạnh tranh không nhỏ. Nếu các NH lớn không cải thiện chất lượng dịch vụ, giữ lề thói làm việc kiểu cũ và thái độ thiếu thân thiện, họ sẽ mất dần thị phần vào tay các NH nhỏ.

Lợi thế về lãi suất không còn, các NH nhỏ đang vươn lên mạnh mẽ hơn nữa, cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, điều này có ý nghĩa cho phát triển bền vững. Bởi thế, lợi thế của NH lớn ngày hôm nay cũng không hẳn là lợi thế về lâu dài cho họ. Bất lợi của NH nhỏ có thể biến thành động lực để xây dựng lợi thế cạnh tranh. Xu hướng là thị phần của NH lớn đang bị thu hẹp dần và trong tương lai khó nói trước thắng bại. Điều đáng nói là khách hàng, từ DN đến những người dân bình thường sẽ được hưởng lợi ích nhiều hơn.

Lê Minh