10:10:46 | 10/1/2012
Năm 2012 đánh dấu 5 năm gia nhập WTO của Việt Nam. Nhân dịp này, phóng viên Vietnam Business Forum đã có cuộc trò chuyện với nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan. Trong bối cảnh kinh tế nhiều thách thức, một cái nhìn sáng suốt có thể phân định các yếu tố “được” và “mất” trong sân chơi mang tính toàn cầu này. Lê Hiền thực hiện.
5 năm là thời gian đủ dài để nhìn lại chặng đường hội nhập quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Sau khi chúng ta gia nhập WTO, ông đánh giá như thế nào?
Trước hết phải nhận định chung rằng tình hình kinh tế hiện nay của Việt Nam đang chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó có những nhân tố nội tại như trình độ phát triển vốn có, cơ cấu kinh tế, thể chế và sự điều hành...chứ không chỉ tùy thuộc vào quá trình hội nhập nói chung và việc gia nhập WTO nói riêng. Việt Nam gặp điều không may là chẳng bao lâu sau khi gia nhập WTO đã bùng phát cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ và sự suy thoái kinh tế toàn cầu, do đó khó phân định. Tuy nhiên có thể hình dung một số lợi ích do việc gia nhập WTO đem lại như sau:
Thứ nhất, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam không còn bị phân biệt đối xử, được hưởng thuế suất nhập khẩu của các nước giống như các thành viên khác, các rào cản phi thuế quan cũng đỡ đi nên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng liên tục, kể cả trong những năm khủng hoảng. Trừ năm 2009, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều đạt trên 20%, năm 2011 đạt trên 30%, nếu nhìn cả 5 năm đã tăng 17,3% so với dự kiến là 16%.
Thứ hai, nhờ thuế suất nhập khẩu của Việt Nam cắt giảm nên giá máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ cho sản xuất cũng giảm bớt, vì vậy gánh đỡ cho giá thành, gia tăng phần nào khả năng cạnh tranh. Còn việc nhập siêu gia tăng thì chủ yếu là do hai nguyên nhân: cơ cấu kinh tế của Việt Nam lạc hậu, tỷ lệ gia công quá lớn nên càng đẩy mạnh sản xuất, gia tăng xuất khẩu lại càng phải nhập khẩu. Hơn nữa, giá cả trên thị trường thế giới giao động mạnh, có thể nói đã hình thành một mặt bằng giá cả mới cao hơn trước.
Thứ 3, người tiêu dùng cũng được lợi nhờ hàng hóa đa dạng hơn, các DN nước ngoài như ngân hàng, bảo hiểm, phân phối xâm nhập thị trường tuy có tạo nên sức ép cạnh tranh với các DN của ta song lại đem lại tiện ích cho người tiêu dùng.
Thứ tư, do thể chế thông thoáng hơn nên đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng đáng kể; trong 5 năm tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt khoảng 150 tỷ USD, gấp 2,7 lần, tổng số thực hiện đạt 45 tỷ, vượt 77% so với mục tiêu đề ra.
Thứ năm, một mặt các DN có chịu thêm sức ép cạnh tranh, mặt khác cũng buộc phải vươn lên đồng thời hiểu biết hơn thị trường thế giới và những luật chơi của nó.
Tiếp đó, trong quá trình đàm phán và sau khi gia nhập, thể theo các cam kết quốc tế, hệ thống pháp luật của Việt Nam được bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh hơn, tạo thuận lợi cho việc làm ăn kinh doanh của DN.
Sau cùng, nhờ đã trở thành thành viên WTO nên vị thế quốc tế của Việt Nam càng được nâng cao, ngày nay Việt Nam có điều kiện tham gia sân chơi quốc tế, kể cả trong khuôn khổ WTO ở tư thế bình đẳng hơn.
Bên cạnh đó, việc gia nhập WTO cũng đặt ra những thách thức mới. Có thể kể đến một số mặt: Thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh gia tăng, kể cả trên thị trường trong nước do ta từng bước phải mở cửa thị trường cho các DN nước ngoài. Đồng thời, do đã liên thông với thị trường quốc tế nên những biến động của thế giới tác động vào Việt Nam nhanh hơn, mạnh hơn. Nhân đây cũng phải nói rằng, cho dù không hội nhập, không mở cửa thì kinh tế Việt Nam vẫn chịu tác động vì cơ cấu kinh tế còn lạc hậu, muốn hay không cũng vẫn phải nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu để sản xuất và xuất khẩu, thậm chí với giá cao hơn do bị phân biệt đối xử. Thứ ba là “từ sông suối ra biển lớn”, các DN Việt Nam sẽ không khỏi bỡ ngỡ, sơ hở, thua thiệt.

Trước những khó khăn hiện nay của nền kinh tế, có nhiều ý kiến cho rằng, sự chuẩn bị của Việt Nam còn chưa kỹ càng, sự vội vàng đã làm cho DN nhận những “bài học” đắt giá? Từ mất thương hiệu đến giá cả lên xuống bấp bênh…, đánh giá của ông về vấn đề này như thế nào?
Thực ra, Việt Nam hội nhập từng bước chứ không vội vã. Bước đầu ta mới tham gia AFTA, tức là Khu vực mậu dịch tự do ASEAN rồi mới ký BTA với Hoa Kỳ theo luật chơi của WTO, riêng đàm phán về việc gia nhập WTO cũng kéo dài trên 10 năm, vả lại trong mỗi thỏa thuận đều theo lộ trình từng bước. Chỉ tiếc rằng, các cơ quan Nhà nước chưa hướng dẫn chu đáo cho các DN, các biện pháp che chắn mà cam kết quốc tế cho phép rất thiếu; bản thân các DN cũng còn nặng tâm lý bảo hộ, chưa chịu quan tâm tìm hiểu các cam kết được công bố công khai nên thua thiệt. Nếu không hội nhập thì chắc cũng chẳng có ai thèm để ý đến vấn đề thương hiệu, khái niệm này mới chỉ xuất hiện và nổi lên sau khi hội nhập song tiếc rằng nhiều DN, địa phương chưa quan tâm đăng ký, chú trọng xây dựng chứ đừng nói là bảo vệ; các cơ quan có trách nhiệm cũng chưa hết lòng hướng dẫn do đó nhiều DN Việt Nam phải trả giá. Hy vọng rằng những bài học đắt giá như vậy sẽ thức tỉnh các cơ quan, chính quyền các địa phương và DN trong nước.
Để tận dụng những lợi thế mà WTO mang lại, Việt Nam sẽ phải làm gì khi mà theo cam kết 5 năm tới những rào cản về thuế quan sẽ giảm sâu hơn nữa? những lĩnh vực nào sẽ có cơ hội phát triển hơn, thưa ông?
3 hay 5 năm tới không phải là xóa bỏ hàng rào quan thuế theo cam kết khi gia nhập WTO vì theo quy định của WTO chỉ có việc giảm thuế suất thuế nhập khẩu chứ không có chuyện xóa bỏ. Việc hạ thuế suất xuống mức từ 5 đến 0% liên quan tới các cam kết trong khuôn khổ hình thành các khu vực mậu dịch tự do (FTA). Riêng đối với WTO thì điều quan trọng sẽ là thực hiện lộ trình mở cửa thị trường.
Do đó các DN trong nước nên chịu khó đi sâu nghiên cứu lộ trình mở cửa thị trường trong các lĩnh vực khác nhau theo cam kết với WTO rồi chủ động chiếm lĩnh trước. Bên cạnh đó, đã đến lúc các DN phải cố xâm nhập thị trường các nước chứ không chỉ thụ động ngồi chờ người ta vào nước mình. Việc này rất khó nhưng cần nghĩ tới. Còn cơ hội ở đâu, ngành gì, nghề gì thì mỗi DN tự xác định tùy theo lĩnh vực hoạt động và khả năng của mình cũng như nhu cầu thị trường chứ cá nhân tôi làm sao có thể đưa ra lời khuyên chính xác được.
Hoa kỳ luôn là thị trường tiềm năng và là mục tiêu xuất khẩu của các DN Việt Nam. Là người am hiểu thị trường này, xin ông cho biết kinh nghiệm để hợp tác với DN Hoa Kỳ ?
Hoa Kỳ đúng là thị trường lớn nhất nhưng cũng không dễ tính. Làm ăn với thị trường này nên chú trọng tìm hiểu kỹ hệ thống luật pháp của họ. Hệ thống này khá tỷ mỷ, rắc rối, dễ vi phạm; đã vi phạm thì mắc vào vòng lao lý rất vất vả tốn kém. Còn DN Hoa Kỳ sang Việt Nam làm ăn cũng rất chú trọng hệ thống pháp luật của Việt Nam song tiếc rằng hệ thống này còn chưa hoàn thiện, tính minh bạch còn thiếu nên họ dễ nản lòng. Ở Hoa Kỳ hệ thống tư vấn, môi giới, kể cả về pháp luật rất phát triển; không sử dụng họ thì khó bề thâm nhập, làm ăn. Các ngành hàng đều có các hiệp hội hùng mạnh, làm ăn ngành nào phải tiếp cận với các hiệp hội đó đồng thời phải tiếp cận cả các hiệp hội "đối lập" (ví dụ Hiệp hội Dệt may đối lập với Hiệp hội Nhập khẩu hàng may mặc) để đỡ gặp phải sự cản phá. Vận đông hành lang cũng rất phổ biến và theo luật pháp nghiêm ngặt, làm ăn với Hoa kỳ cũng phải biết tận dụng...Văn hóa kinh doanh và luật lệ hà khắc tạo nên tính cách làm ăn của các DN Hoa Kỳ, họ rất kỵ "đi đêm", "phong bì".
Bước sang năm 2012, dự đoán của ông về tình hình kinh tế Việt Nam?
Năm 2012 chắc chưa sáng sủa gì vì Việt Nam vẫn phải tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô do đó chắc sẽ phải tiếp tục thắt chặt tiền tệ. Tuy nhiên, Chính phủ đã và đang đề ra nhiều biện pháp để gỡ khó cho DN như giảm, dãn thuế, ưu tiên cấp tín dụng cho một số lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ, xuất khẩu. Trong quá trình tái cấu trúc, sẽ giảm bớt đầu tư công và sự ưu ái quá mức đối với DNNN...Tất cả những điều đó sẽ hé mở cho các DN ngoài Nhà nước một số thuận lợi nhất định.
Còn kinh tế thế giới thì cũng sẽ vẫn gặp khó khăn, đó là chưa kể trường hợp châu Âu "vỡ nợ", đồng Euro đổ bể...Tuy nhiên có một số nhân tố đáng quan tâm như Nhật đang có khuynh hướng chuyển công nghiệp phụ trợ sang Việt Nam sau vụ động đất và sóng thần hồi tháng 3 năm 2011 và vụ đại hồng thủy ở Thái Lan hủy hoại các cơ sở của họ. Việc Thái Lan bị thiệt hại nặng sau trận lụt thế kỷ cũng hé ra một số khả năng cho các DN Việt Nam. Hay việc Nga gia nhập WTO cũng sẽ đưa tới việc giảm thiểu hàng rào quan thuế mà Việt Nam cần tận dụng. Nói tóm lại không nên "cái khó bó cái khôn" mà nên "cái khó ló cái khôn" Gì chứ, cái khôn thì doanh nghiệp Việt Nam không thiếu!
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)