09:30:17 | 20/2/2012
Sau gần 5 năm gia nhập WTO, thị trường Việt Nam đã có đủ thời gian để kiểm chứng những tác động của tự do hóa thương mại đem lại. Bên cạnh việc hàng hóa của Việt Nam được hưởng những ưu đãi thương mại khi xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên khác của WTO, thì sức ép cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu đối với sản xuất và khu vực dịch vụ trong nước lại đem lại những gánh nặng không nhỏ.
DN chưa quen “đi kiện”
Hầu hết các nước đang tận dụng triệt để những rào cản thương mại có thể để bảo hộ sản xuất trong nước. Chính vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, liên tiếp nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bị kiện trên thị trường thế giới. Mặc dù đã chủ động hơn trong các giao dịch với bạn hàng nước ngoài, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn thiệt thòi nhiều hơn khi bị kiện. Đối phó với việc bị kiện và biết đi kiện đúng lúc, đúng chỗ đang trở thành yêu cầu bức thiết, một kỹ năng sống còn đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Một trong những “công cụ” được đánh giá là hữu hiệu nhất trong thời điểm này là áp dụng các biện pháp tự vệ trước sức ép cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu, gây thiệt hại cho sản xuất trong nước.

Việt Nam đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khi xuất khẩu giày mũ da sang EU, tôm sú sang Nhật…. Cục Quản lý cạnh tranh nhận định, không chỉ mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn (như tôm, cá, giày da) mà những mặt hàng có kim ngạch nhỏ cũng bị kiện. Mặt hàng lò xo cho giường ngủ đã bị tại thị trường Hoa Kỳ (có kim ngạch xuất khẩu chỉ vài chục nghìn USD/năm), mặt hàng salad bị Ấn Độ kiện… Đây là những điều đáng lo ngại khi cạnh tranh trong thương mại ngày càng cao.
Có một thực tế đang diễn ra là, trong khi hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam liên tục bị kiện ở nước ngoài thì tại thị trường trong nước, chưa một mặt hàng nhập khẩu nào bị Việt Nam kiện vì cạnh tranh không lành mạnh. Lại cũng có ý kiến cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam vốn có thói quen xin bảo hộ bằng các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước nên không quen và không thích đi kiện (tốn kém, vất vả, khó khăn, phức tạp hơn nhiều).
Cơ chế phòng vệ đã có…
Theo Tiến sĩ. Hoàng Thị Thanh Thủy – Giảng viên Khoa Luật Đại học KTQD Hà Nội, cơ chế phòng vệ thương mại đã được qui định trong Hiệp định về các biện pháp phòng vệ thương mại 1994 (SA) trên cơ sở cụ thể hóa và bổ sung các qui định của điều XIX Hiệp định GATT hay Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam (Pháp lệnh 42) trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của WTO về tự vệ thương mại.
Ngày 08.05.2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị định số 150/2003/NĐ -CP qui định chi tiết thi hành pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu (NK) hàng hóa nước ngoài vào VN. Nghị định bao gồm 4 chương, 17 điều; trong đó qui định cụ thể về các biện pháp tự vệ, thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp này trong trường hợp NK hàng hóa quá mức vào VN, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Theo đó, VN có quyền áp dụng bảy biện pháp tự vệ gồm: tăng mức thuế NK; áp dụng hạn ngạch NK; áp dụng hạn ngạch thuế quan; áp dụng thuế tuyệt đối; cấp phép NK để kiểm soát NK; phụ thu đối với hàng hóa NK...
Về cơ bản, các qui định của Pháp lệnh 42 và Nghị định 150 đã qui định cụ thể về thủ tục điều tra và thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong các vụ phòng vệ thương mại. Các qui định về thủ tục và điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ thương mại.
… nhưng chưa vụ kiện nào thành công
Ngành thép VN bị kiện là thế, nhưng ngay trên sân nhà, thép ngoại đang lấn át thép nội nhờ giá rẻ. Thậm chí Hiệp hội Thép VN VSA cho rằng, các nhà sản xuất nước ngoài đã bán phá giá phôi thép và sản phẩm thép vào thị trường Việt Nam với số lượng ngày càng lớn, đặc biệt là Nga, Ukraine, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ... Đối phó với tình trạng này, các doanh nghiệp ngành thép chỉ biết kiến nghị Chính phủ “giải cứu” bằng các giải pháp hành chính, trong đó chủ yếu là công cụ thuế, tuyệt nhiên không có ý định kiến nghị các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại.
Theo Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương), cho đến nay chưa một vụ kiện chống cạnh tranh không lành mạnh nào được tiến hành đối với hàng hóa nhập khẩu, mặc dù sự cạnh tranh không lành mạnh dĩ nhiên là vẫn hiện hữu. Các doanh nghiệp và nhiều cơ quan Nhà nước Việt Nam chưa hiểu và chưa coi kiện bán phá giá, kiện chống trợ cấp là những công cụ để bảo vệ thị trường của mình. Trong kinh doanh, các doanh nghiệp nội chỉ chú ý cạnh tranh với nhau mà chưa hợp tác với nhau trước những nguy hại mà đối thủ nước ngoài mang đến. Hơn nữa, cơ cấu hàng xuất nhập khẩu rất đa dạng, tính chất, loại hình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cũng phức tạp, việc thống kê số liệu chưa hoàn chỉnh nên khi áp dụng những tiêu chí và điều kiện để khởi kiện thì không phải lúc nào cũng chắc chắn về chứng cứ.
Giữa năm 2009, Công ty kính nổi Viglacera (VIFG) và Công ty Kính nổi Việt Nam (VFG) đã chính thức nộp đơn yêu cầu Bộ công thương tiến hành điều tra áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đối với sản phẩm kính nổi nhập khẩu (Float Glass). Tuy nhiên, các biện pháp tự vệ thương mại đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu theo đơn yêu cầu của nguyên đơn không được Bộ Công Thương chấp nhận do kết quả điều tra cuối cùng cho thấy không đủ điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại theo qui định của WTO.
Mặc dù chưa có một vụ kiện phòng vệ nào thành công, nhưng TS Nguyễn Thị Thanh Thủy cho rằng, vụ điều tra đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu có thể được coi là một ví dụ điển hình cho tính tự chủ của các doanh nghiệp trong nước trong việc chủ động liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ lợi ích thương mại hợp pháp của mình khi tham gia vào hoạt động thương mại thế giới. Nhận thức này của doanh nghiệp càng phải được đặc biệt phát huy trong giai đoạn tới, khi Việt Nam ngày càng tham gia hội nhập sâu hơn vào hoạt động thương mại thế giới và trong khu vực.
Huong Ly