Phát triển thị trường nội địa: “Điểm tựa” cho hàng Việt Nam

08:36:27 | 27/2/2012

Kỳ 1: Sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam

Chỉ khi khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế xảy ra, thị trường xuất khẩu thu hẹp, trong khi nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu, hàng Việt Nam đã không thể vượt qua các hàng rào kỹ thuật ngày càng nhiều, hàng của các nước lân cận cũng đổ vào Việt Nam với mật độ dày đặc, thì các doanh nghiệp mới nhận ra vai trò quan trọng của thị trường nội địa...

Việt Nam là nước có nền kinh tế phát triển nhanh trong nhiều năm qua; mức độ đô thị hóa của Việt Nam tăng nhanh; dân số đông 86 triệu người, trong đó gần 70% dân số ở độ tuổi dưới 35 - là độ tuổi có mức chi tiêu dùng cao nhất; chi tiêu của người tiêu dùng tăng khoảng 18%/năm và tổng mức bán lẻ tăng khoảng 20%/năm; thị trường nông thôn có tỷ lệ tiêu dùng trên thu nhập tăng thêm rất cao… Đó là những hấp lực lớn không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà cả với nhiều nhà đầu tư nước ngoài.

Trong bối cảnh thành tích xuất khẩu trở thành mục tiêu, thì việc phát triển thị trường nội địa chỉ là động cơ thứ yếu. Chỉ khi khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế xảy ra, tổng cầu trên thị trường thế giới bị sụt giảm, thị trường xuất khẩu thu hẹp, trong khi nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu và hàng Việt Nam đã không thể vượt qua các hàng rào kỹ thuật mọc lên ngày càng nhiều, hàng của các nước lân cận cũng đổ vào Việt Nam với mật độ dày đặc thì các doanh nghiệp mới nhận ra vai trò quan trọng của thị trường nội địa. Nó không đơn thuần chỉ là căn cứ an toàn cho doanh nghiệp Việt Nam khi gặp “bão”, mà còn là điểm tựa để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia vào “biển lớn”: Thị trường quốc tế.

Xu thế "hướng nội", chuyển hướng chiến lược kinh doanh tập trung vào thị trường nội địa, thay cho chủ trương toàn cầu hóa hiện cũng đang xuất hiện ở nhiều nước chẳng hạn như Trung Quốc hay Mỹ.

Mặc dù ý thức được vai trò quan trọng của thị trường nội địa bên cạnh thị trường xuất khẩu, nhưng để chiếm lĩnh thị trường nội địa trước sự xâm nhập ồ ạt của hàng hóa nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là vấn đề rất khó khăn đối với các doanh nghiệp trong nước. Bởi lẽ, việc tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mới, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng có chất lượng cao nhưng giá thành hạ và được tổ chức hệ thống phân phối tốt không phải là công việc được giải quyết chỉ trong một vài năm, đặc biệt thời gian vừa qua, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung vào sản xuất gia công hàng xuất khẩu; hệ thống phân phối hàng hóa còn thô sơ, chủ yếu theo hình thức truyền thống.

Làm thế nào để các doanh nghiệp của ta khẳng định được vị thế trên sân nhà trong quá trình hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế của Việt Nam. Chiếm lĩnh được thị trường nội địa là vấn đề được Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cũng như cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hết sức quan tâm.

Để xây dựng chiến lược phát triển thị trường nội địa, trước hết chúng ta cần nghiên cứu và phân tích kỹ những cam kết mở cửa dịch vụ phân phối mà nước ta đã cam kết khi gia nhập WTO.

Việt Nam đã cam kết mở cửa các dịch vụ phân phối như: Dịch vụ đại lý hoa hồng; dịch vụ bán buôn; dịch vụ bán lẻ; dịch vụ nhượng quyền thương mại. Theo đó, một nhà phân phối được phép sử dụng một hình thức bán lẻ hoặc một thương hiệu nhất định. Kể từ ngày 1/1/2009, nước ta đã cho phép lập doanh nghiệp phân phối 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài ra, từ ngày 11/1/2007, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lập chi nhánh để cung cấp dịch vụ nhượng quyền thương mại.

Tuy nhiên, Việt Nam hạn chế khả năng mở thêm điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thông qua việc kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT). Các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài muốn lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất sẽ được các cơ quan quản lý xem xét nhu cầu kinh tế.

Về mặt hàng, Việt Nam mở cửa các dịch vụ phân phối cho tất cả các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, trừ các mặt hàng sau đây: Thuốc lá và xì gà; sách, báo và tạp chí, vật phẩm đã ghi hình; kim loại quý và đá quý; dược phẩm; thuốc nổ; dầu thô và dầu đã qua chế biến; gạo, đường mía và đường củ cải. Đối với các sản phẩm trên, Việt Nam có thể dành quyền phân phối cho các doanh nghiệp trong nước.

Đối với các sản phẩm mà Việt Nam đã cam kết mở cửa, các nhà phân phối có vốn đầu tư nước ngoài được quyền phân phối tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, kể từ ngày 11/1/2010. Việt Nam cũng cho phép bán hàng qua mạng từ nước ngoài vào Việt Nam. Việc phân phối qua phương thức này có thể được thực hiện dưới dạng mua, bán hàng hóa qua mạng hoặc đặt hàng qua thư. Theo phương thức này, Việt Nam chỉ cho phép các nhà phân phối nước ngoài được bán các loại hàng hóa sau: Các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân; các chương trình phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc vì mục đích thương mại. Đối với các sản phẩm khác, việc bán hàng qua mạng sẽ tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.

Ngày nay, nền kinh tế thế giới đã đạt đến mức độ hội nhập cao, thị trường nội địa ở các nước nói chung, nước ta nói riêng, thực tế chỉ là sự nối dài của thị trường quốc tế và ngược lại, cũng có thể xem thị trường quốc tế là sự nối dài của thị trường trong nước. Thị trường nội địa ở nước ta hiện nay không chỉ bao gồm các sản phẩm sản xuất trong nước mà còn gồm vô số các sản phẩm nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam không chỉ có vốn của người Việt Nam mà còn có vốn của người nước ngoài.

Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, những đặc quyền, phân biệt đối xử quốc gia đang dần được dỡ bỏ, tuy việc dỡ bỏ sẽ không dễ dàng vì sự mâu thuẫn lợi ích kinh tế Bắc - Nam. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay lan rộng không từ một quốc gia nào, có thể làm suy thoái kinh tế trong nhiều năm, sẽ làm cho nhiều doanh nghiệp, nhiều chính phủ mất niềm tin vào thị trường tài chính và thương mại thế giới, nhưng nó cũng không thể làm cho xu thế toàn cầu hóa kinh tế bị đảo chiều. Trong toàn cầu hóa kinh tế thì toàn cầu hóa thương mại diễn ra mạnh và quyết liệt nhất. Điều đó ngầm ý là muốn phát triển thị trường nội địa hiệu quả và bền vững thì không được tách rời với thị trường quốc tế.

Năm 2009 là thời điểm Việt Nam thực hiện tự do hóa thương mại nội vùng ASEAN và mở cửa thị trường bán lẻ trong nước theo lộ trình WTO. Thực tế, độ hội nhập thương mại của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới rất cao, tỷ lệ kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP trong những năm gần đây luôn vào khoảng trên 160%. Với việc bãi bỏ thuế nhập khẩu vào đầu năm 2009, hàng hóa từ các nước trong khu vực ASEAN đang tràn vào Việt Nam.

Nguyễn Lộc An- Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước - Bộ Công Thương

Nguồn: baocongthuong.com.vn