12:44:47 | 2/3/2012
Khó khăn tồn dư của nền kinh tế 2011 cộng với những gánh nặng về mặt tài chính đầu năm khiến cho thêm nhiều DN lâm vào tình trạng khó khăn. Dự báo khoảng hơn 100.000 DN có thể phá sản trong năm nay. Ông Đỗ Thanh Năm, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Công ty Tư vấn và Hỗ trợ chiến lược Win-Win chia sẻ một số giải pháp ứng biến khó khăn cho DN.
Có thể nói giai đoạn khó khăn nhất đối với hoạt động của DN đã qua đi, bức tranh kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm có thể hình dung như thế nào, thưa ông?
Khủng hoảng xảy ra là cơ hội giúp doanh nghiệp trở nên mạnh mẽ hơn. Đây là lúc các doanh nghiệp phải soi sét lại thực trạng hoạt động của mình, tái cấu trúc phù hợp, tăng cường sức đề kháng chống chọi lại khó khăn. Một số doanh nghiệp đã xây dựng được cho mình chiến lược phát triển bền vững, đi vào chiều sâu, sử dụng đòn cân nợ hợp lý, cắt giảm chi phí, ngành nghề hoạt động không cần thiết, chú trọng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ở những lĩnh vực kinh không hoặc ít bị tác động mạnh bởi khủng hoảng hoặc lựa chọn những hoạt động kinh doanh thời vụ như giải pháp tình thế lấy ngắn nuôi dài. Nhờ đó, trụ vững được trước sóng gió nhưng thực tế số lượng này chiếm không nhiều, chủ yếu là những tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp lớn có tài chính vững mạnh, được sự hỗ trợ về vốn hoặc hoạt động trong lĩnh vực không chịu sự chi phối nhiều với các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh của khủng hoảng.
Số còn lại, phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ đều trong tình trạng rất khó khăn. Những tháng đầu năm, tình hình kinh tế thế giới vẫn chưa kiểm soát được; khó khăn kinh tế 2011 tồn dư; lạm phát, lãi suất ngân hàng mặc dù đã giảm dần nhưng hiện tại vẫn ở mức cao; cung tín dụng có tăng nhưng không đáng kể; tiêu thụ hàng hóa vì thế cũng không tăng; thêm vào đó là di chứng của khoảng 50.000 DN phá sản năm 2011 đã khiến cho bức tranh kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm khá ảm đạm. Nếu như cuối năm 2011, những doanh nghiệp nào chưa tìm ra hướng để giải quyết khó khăn thì năm 2012 sẽ khó khăn hơn và con số 100.000 doanh nghiệp phá sản là hoàn toàn nằm trong tầm dự báo.
Cụ thể, những vướng mắc tồn tại của doanh nghiệp là gì?
Thứ nhất, lãi suất ngân hàng vẫn còn ở mức khá cao và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể vay được tiền. Bị hạn chế nguồn cung nên các ngân hàng thường ưu tiên cho các doanh nghiệp là cổ đông lớn của ngân hàng. Chỉ 2 tháng đầu năm, tình trạng thiếu hụt tiền mặt, khả năng thanh khoản kém đã đẩy nhiều doanh nghiệp đến bờ vực phá sản.
Thứ hai, chi phí đầu vào tăng, thị trường đầu ra khó khăn với lượng hàng tồn kho của một số ngành hàng lên đến 100% so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, chi phí biến đổi và cố định/đơn vị sản phẩm đều tăng, trong khi tăng giá bán đồng nghĩa với việc giảm sản lượng tiêu thụ.
Thứ ba, khủng hoảng kéo dài từ năm 2008 đến nay khiến cho sức đề kháng của doanh nghiệp giảm dần. Nhiều doanh nghiệp trở nên chán nản, mất bình tĩnh mà không thấy được môi trường kinh doanh đã được cải thiện, nhiều chính sách có lợi hơn cho doanh nghiệp v.v từ đó có những phương hướng, quyết sách phù hợp để vực dậy DN.
Từ đó, ông có thể cho biết một số giải pháp ứng phó khó khăn cho các DN?
Tùy thuộc vào thực trạng của từng doanh nghiệp, tuy nhiên, những giải pháp sau đây sẽ gợi mở để doanh nghiệp xem xét và lựa chọn phù hợp.
Thứ nhất, đẩy mạnh việc thu hồi nợ, đồng thời ưu tiên phục vụ những khách hàng thanh toán liền. Khả năng thanh toán đúng hạn của khách hàng là tiêu chí rất quan trọng. Tiến hành đánh giá khách hàng, từ đó chọn những nhóm khách hàng để ưu tiên phục vụ. Đối với những khách hàng gây thiệt hại, ví dụ mang lại doanh thu thấp nhưng đòi hỏi rất nhiều thời gian và phí tổn phục vụ, thanh toán chậm… đôi khi có những đòi hỏi quá mức cho phép, doanh nghiệp cân nhắc và đưa ra giải pháp cụ thể.
Thứ hai, tìm cách đẩy mạnh việc bán hàng, giảm hàng hóa tồn kho. Cơ sở để doanh nghiệp xem xét trong việc đưa ra giá bán là chi phí biến đổi (không phải là giá thành sản phẩm như trước đây từng làm) và khả năng thanh toán của khách hàng. Doanh nghiệp cố gắng để tối thiểu hóa thiệt hại và duy trì được hoạt động kinh doanh nếu có thể để chờ cơ hội phục hồi của nền kinh tế.
Thứ 3, tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết để giảm chi phí sản xuất, phân phối, và hỗ trợ nhau cùng bán hàng. Những doanh nghiệp có cùng một đối tượng khách hàng nên ngồi lại với nhau để bàn cách giảm chi phí cho khách hàng bằng giải pháp kết hợp tổng thể từ tiếp thị, bán hàng, vận chuyển... Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần lưu ý đến hình thức outsourcing, với hình thức này, những doanh nghiệp thuê ngoài sẽ hạn chế được việc đầu tư nhiều vào tài sản cố định, chuyển chi phí cố định thành chi phí biến đổi để hạn chế rủi ro; những doanh nghiệp được thuê ngoài có cơ hội để khai thác hết công suất nhà máy, giảm chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm. Song song với đó là cắt giảm chi phí không tạo nên giá trị gia tăng, cơ cấu lại mô hình quản lý, tinh gọn đội ngũ nhân sự để đủ sức đề kháng với sự thay đổi đột ngột của môi trường kinh doanh.
Thứ tư, từ bỏ những lĩnh vực không thuộc thế mạnh của mình. Tập trung nguồn vốn cho dự án trọng điểm có khả năng mang lại hiệu quả ngay.
Thứ năm, nếu có thực lực doanh nghiệp nên mua cổ phần, mua lại doanh nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm và thị trường gắn liền với sự phát triển bền vững, bằng cách phát huy thế mạnh của mình, gắn liền với năng lực lõi, tay nghề chuyên môn, khám phá và khai thác tay nghề tiềm ẩn. Cần tập trung vào những hoạt động mà doanh nghiệp có thể làm tốt và tạo ra nhiều giá trị.
Thứ sáu, doanh nghiệp nào vay vốn ngân hàng đến hạn phải trả thì nhanh chóng tìm cách xử lý bằng những nguồn vốn có thể, đồng thời tìm cách để vay vốn, gây vốn để đẩy mạnh hoạt động.
Thu Huyền