Quy hoạch cảng biển Việt Nam: Cần đồng bộ và khoa học

07:03:48 | 25/4/2012

Trong những năm qua, kinh tế biển được coi như một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, có vai trò to lớn, quyết định cho sự phát triển của quốc gia. Nhưng thực tế, công tác quy hoạch cảng biển Việt Nam còn bộc lộ nhiều yếu kém và thiếu sót. Tính khoa học và đồng bộ trong quy hoạch cũng chưa được đảm bảo trong khi đây là yếu tố then chốt trong vận hành và quản lý hệ thống cảng biển thành công.

Khoa học

Quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam nhằm mục đích làm cho kinh tế biển phát triển hiệu quả, đồng bộ và hài hoà trong tổng thể nền kinh tế quốc dân ở phạm vi quốc gia và rộng hơn là toàn cầu theo xu hướng hội nhập với thế giới. Thực tế về tổng thể, bản quy hoạch cảng biển được phê duyệt năm 1999 đã dự báo khá chính xác sự phát triển lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng. Trong quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 cũng đã đề cập nhiều đến tính khoa học trong xây dựng cầu cảng dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Trước hết, quy hoạch khoa học là phải tính đến yếu tố nguồn hàng dựa trên nguyên tắc có hàng mới xâcảng. Trong những năm qua, việc quy hoạch, xây dựng cảng biển tràn lan và đầu tư không có trọng điểm đã khiến hàng loạt cảng biển bị “phơi sương”, nhiều cảng biển chỉ hoạt động được 20%-30% công suất gây lãng phí hàng ngàn tỉ đồng. Các cảng biển loại nhỏ, công nghệ lạc hậu thì không đủ sức cạnh tranh giành nguồn hàng còn cảng biển mới được xây dựng có sự hợp tác với các đối tác nước ngoài thì đang xảy ra tình trạng dư thừa công suất thiết kế.

Không đánh giá đến tính khoa học làm cho việc xây dựng cảng biển đã trở thành “trào lưu”, nhiều tỉnh, thành đã cấp phép xây dựng cảng biển mà không đánh giá đúng nhu cầu thực tiễn của địa phương dẫn đến tình trạng “xây lấy được”, có cảng mà không có hàng.

Đánh giá về tình trạng này, các chuyên gia cho rằng nếu không dẹp bỏ việc xây cảng tràn lan thì nhiều cảng hiện sẽ bị dẹp bỏ, thua lỗ. Các cơ quan chức năng và tỉnh thành nên hạn chế việc cấp phép đầu tư cảng biển tại những nơi không có nhu cầu thực tế đồng thời ngừng cung cấp tài chính cho các dự án cảng biển đang xây dựng tràn lan hoặc cảng biển không có hàng thông qua mà nên đầu tư vào các khu cảng trọng tâm.

Thứ hai là phải tính đến điều kiện địa lý của từng vùng để quy hoạch sao cho hợp lý. Quy hoạch cảng tốt nhất là phải ở gần biển và luồng lạch phải đủ độ sâu để tàu ra vào thuận lợi. Hệ thống cảng biển nằm quá sâu trong đất liền ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.

Ngoài ra, để đạt tính khoa học, quy hoạch cảng biển Việt Nam cần phải tính đến hậu cứ vững chắc. Thông thường phía sau cảng phải là những vùng nguyên liệu hoặc các khu vực sản xuất hàng hoá để bảo đảm sự cung ứng đều đặn và liên tục cho cảng hoạt động. Sẽ rất lãng phí khi cảng đang bị tách rời khu công nghiệp, biệt lập với các tuyến phát triển, kéo theo ngành logistics cung ứng, vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu không phát huy được hiệu quả.

Và đồng bộ

Việc thiếu đồng bộ giữa cảng biển với luồng lạch, cầu đường ra vào cảng đã trở thành rào cản lớn kìm hãm sự phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam. Hầu hết các cảng hiện nay gặp khó khăn rất lớn do luồng cạn, cùng với đó là việc triển khai quá chậm các dự án đường bộ, đường sắt kết nối đến cảng…

Để đảm bảo tính đồng bộ trong quy hoạch cảng biển Việt Nam, phải đầu tư hạ tầng như: cơ sở hạ tầng kết nối, các trung tâm phân phối hàng hóa, dịch vụ logistic và cơ chế ưu đãi đặc thù để vận hành, khai thác các bến cảng một cách thuận lợi, đồng bộ với phương thức quản lý hiện đại, thống nhất để hình thành những cảng trung tâm có quy mô mang tầm khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu vận tải biển xa của Việt Nam, thu hút nguồn hàng trung chuyển quốc gia và quốc tế.

Ngoài ra, sự phát triển cảng biển và cơ sở hạ tầng kết nối một cách đồng bộ sẽ đảm bảo điều kiện hoạt động, khai thác thuận lợi thông suốt của các cảng biển, bến cảng. Trong quá trình quy hoạch cần phối hợp với các địa phương, đặc biệt đối với các tỉnh, thành phố trong khu vực và các trung tâm dịch vụ phân phối hàng hóa...; tổ chức giao thông đối với các khu đô thị cảng biển phải hài hòa, đảm bảo không có xung đột giữa giao thông kết nối cảng và giao thông đô thị.

Theo quy hoạch cảng biển đến 2010, định hướng đến 2020 thì các cảng được phân chia thành 8 nhóm địa lý, với 3 trung tâm chính gọi là các cảng cửa ngõ quốc tế để tiếp nhận tàu trọng tải lớn, phục vụ cho các khu kinh tế trọng điểm. Dự báo trong vòng 10-20 năm tới sẽ có đầu tư mở rộng và hiện đại hóa các cảng biển để thích nghi hơn với tàu.

Việt Nam có tiềm năng rất lớn vể phát triển kinh tế biển. Với chiều dài 3216km bờ biển, Việt Nam hoàn toàn có điều kiện thuận lợi để xây dựng hệ thống cảng biển đồng bộ và chuyên nghiệp. Tuy nhiên việc xây dựng phải tuân theo quy hoạch thống nhất của quốc gia, đảm bảo tính khoa học để mang lại hiệu quả cao nhất.

Thu Hà