08:26:01 | 26/4/2012
Theo thống kê mới nhất của ngành Hải quan thì đến hết tháng 2 năm 2012 có 20 cục hải quan địa phương thực hiện thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) với trên 51.000 DN tham gia. Có 600.000 bộ tờ khai thực hiện TTHQĐT, chiếm tỉ lệ trên 95,5% tổng số tờ khai của các loại hình đã có phần mềm thực hiện; tổng giá trị kim ngạch XNK trong cùng thời gian và loại hình tương ứng đạt 36,8 tỉ USD, chiếm tỉ lệ trên 93,4%. Con số này cho thấy mức độ hưởng ứng của các DN về tính ưu việt của việc triển khai TTHQĐT như: giảm chi phí, thời gian đi lại cho DN đồng thời giải phóng sức lao động của cán bộ hải quan, tránh tiêu cực… Tuy nhiên một nghị định về TTHQĐT lại chưa hoàn chỉnh, bổ sung để ứng phó với thực tế. Vì vậy mới đây Bộ Tài chính đã có công văn 1921/BTC- TCHQ về Đề án xây dựng Nghị định TTHQĐT trình Chính phủ và đã được Thủ tướng chấp thuận đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.

Mục tiêu tổng quát của Đề án này là nhằm khắc phục và hạn chế các sai sót khi thực hiện khai báo TTHQĐT. Việc quy định rõ ràng, đầy đủ trong các văn bản pháp quy là điều hết sức cần thiết, bởi sẽ giúp cả DN và cơ quan Hải quan dễ hiểu, dễ nắm bắt để thực hiện, tăng nguồn thu ngân sách. Chính vì vậy, “quy định khai hải quan điện tử” trong dự thảo Nghị định về TTHQĐT không chỉ thu hút được sự quan tâm của các DN, mà còn nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ các cục Hải quan địa phương.
Trong dự thảo Đề án, vấn đề “quy định khai hải quan điện tử” (quy định tại Điều 9) đã được đơn vị soạn thảo xây dựng khá chi tiết liên quan đến công việc mà người khai hải quan phải thực hiện; những trường hợp cụ thể được sửa chữa, bổ sung thông tin khai báo. Nhưng theo một số đơn vị Hải quan địa phương, các quy định trong dự thảo vẫn cần điều chỉnh nhiều hơn nữa cho phù hợp với thực tế.
Đa số đại diện cục hải quan các địa phương đặc biệt là Hải quan Hải Phòng, Đà Nẵng, TPHCM, nơi có lượng hàng hoá XNK lớn đều cho rằng để tránh khai báo nhiều lần, mất thời gian trong trường hợp công chức Hải quan có yêu cầu kiểm tra chứng từ điện tử, nên thực tế ngay từ lần khai đầu tiên DN đã khai báo tờ khai hải quan điện tử và đầy đủ chứng từ kèm theo, để CBCC căn cứ quyết định thông quan nhanh hơn, và giúp DN không phải khai báo nhiều lần. Thay vì trong dự thảo nhấn mạnh vào tính trách nhiệm của người khai hải quan trên hệ thống khai hải quan điện tử.
Tuy nhiên để tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp và hỗ trợ họ, đề án cũng quy định rõ ràng về thời gian sửa chữa, khai báo bổ sung, có thể là trên 60 ngày so với hiện tại. Đây là quy định mới và tạo nhiều thuận lợi hơn cho DN so với phương thức truyền thống. Vì thực tế thời gian qua, có nhiều trường hợp sai sót về tên người XNK, trị giá, tỉ giá, thông tin về lô hàng nhất là những hàng hoá máy móc kỹ thuật khá chi tiết, làm cách tính thuế sai lệch ảnh hưởng tới quyền lợi của DN… do đó nhu cầu điều chỉnh vẫn hết sức cần thiết với DN. Do đó, Cục Hải quan Bình Dương đề nghị vấn đề này cần được xem xét, điều chỉnh cho “sửa chữa, khai bổ sung” dù tờ khai đó quá thời hạn 60 ngày, như đối với trường hợp “sai sót gây ảnh hưởng đến số thuế” quy định tại Điều 13, Thông tư 222/2009/TT-BTC hiện hành.
Ngoài ra, một số chuyên gia của nghiên cứu về hải quan cũng chỉ ra những chi tiết cụ thể để DN có thể hiểu đúng và đủ, ví dụ như từ ngữ cần chuẩn xác hơn trong đề án do phạm vi áp dụng của nó rộng và vốn khác biệt vùng miền. Chẳng hạn cần giải thích rõ hơn trong Nghị định, yêu cầu “nộp, xuất trình chứng từ” là chứng từ điện tử hay chứng từ giấy? Cục Hải quan Hà Nội đề xuất từ “thời điểm khai báo trong thời hạn 60 ngày…” thành “thời điểm khai báo bổ sung trong thời hạn 60 ngày”.
Lê Hiền