09:24:13 | 1/6/2012
Các gói giải cứu đã được Chính phủ đưa ra trong nỗ lực cứu các doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn hiện nay. Tuy nhiên, vẫn có nhiều ý kiến cho rằng phải giúp doanh nghiệp ổn định bền vững cần thiết hơn là đưa ra gói “giải cứu” như thể một giải pháp tình thế.
Khó tiếp cận nguồn vốn vay
Mặc dù lãi suất ngân hàng đã hạ, đây được xem như là biện pháp trực tiếp nhằm giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp, nhưng trên thực tế việc tiếp cận nguồn vốn vay lãi suất ưu đãi đối với các doanh nghiệp vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Có thể nói, chương trình hỗ trợ tín dụng cho bốn lĩnh vực sản xuất kinh doanh ưu tiên mà ngân hàng nhà nước đề ra sẽ còn lắm gian nan mới có thể đạt được mục tiêu kỳ vọng. Nhìn lại gói cứu trợ doanh nghiệp của Chính phủ năm 2009 cũng như gói cứu trợ lần này có thể thấy nhu cầu cần được “cứu” của doanh nghiệp là rất lớn trong khi khả năng đáp ứng của Chính phủ lại hạn chế chẳng khác gì “muối bỏ bể”.

Về phía cộng đồng doanh nghiệp, không thể phủ nhận việc có nhiều doanh nghiệp thiếu năng lực quản lý, đầu tư dàn trải và không hiệu quả, lạm dụng việc sử dụng đòn bẩy tài chính và chấp nhận rằng những doanh nghiệp kém cỏi này không sớm thì muộn cũng phải lâm vào tình trạng phá sản, bị loại khỏi cuộc chơi. Việc cứu những doanh nghiệp như thế chỉ là giải pháp tình thế, không mang tính lâu dài và tạo được sự ổn định. Tuy nhiên, để sàng lọc được những doanh nghiệp như thế lại không phải chuyện ngày một ngày hai.
Những doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt, đội ngũ nhân sự đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhưng những bất ổn của tình hình kinh tế vĩ mô đã tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh khiến doanh nghiệp gặp khó khăn cũng không ít. Vì thế, việc thực hiện các giải pháp cứu trợ, những nguyên nhân dẫn đến khó khăn của doanh nghiệp về cơ bản là không khác nhau. Các doanh nghiệp hấp hối vào năm 2009 và năm 2012 đều có lý do để biện minh là do lãi suất ngân hàng và thuế suất quá cao, nguồn vốn tín dụng khan hiếm khiến cho gánh nặng tài chính trở nên không kham nổi đối với họ.
Khi những khó khăn của doanh nghiệp không được khắc phục kịp thời thì tình trạng đổ vỡ ắt sẽ xảy ra buộc doanh nghiệp phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động mất việc làm và tình trạng bất ổn bắt đầu xuất hiện. Khối cầu khả dụng trong nền kinh tế đương nhiên sút giảm khiến cho hàng hóa sản xuất trong nước không bán được, doanh nghiệp bị đẩy tới bờ vực phá sản.
Bên cạnh đó, chỉ số giá tiêu dụng vào đầu năm 2012 bắt đầu có dấu hiệu sụt giảm, tồn kho hàng hóa bị ứ đọng, sản xuất kinh doanh ngày càng lún sâu vào đình trệ và đẩy hạng vạn doanh nghiệp vừa và nhỏ vào tình trạng vỡ nợ. Vào thời điểm đó, dường như chúng ta vẫn còn cho rằng sự phá sản các doanh nghiệp tư nhân là một sự sàng lọc tuy nghiệt ngã nhưng cần thiết của thị trường.
Tìm kiếm giải pháp
Làm thế nào để cứu doanh nghiệp? Theo Tiến sĩ. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, đã nhắc lại một nhận định không mới về tình thế của Việt Nam năm 2011: Việt Nam là một trong 7 nền kinh tế mới nổi có nguy cơ tăng trưởng nóng cao nhất thế giới. Ông Thiên cho rằng, bản thân nền kinh tế thế giới cũng đang trải qua những giai đoạn khó khăn, những bất ổn kinh tế đang khiến cho nhiều người trở nên bi quan hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh ấy, nền kinh tế Việt nam cũng không tránh khỏi những hệ lụy, vì thế, muốn giải cứu doanh nghiệp chúng ta phải ổn định nền kinh tế vĩ mô trước tiên, trong đó cần có sự thay đổi phân bổ nguồn lực, càng để quá trình tái cơ cấu lâu thì hậu quả sẽ càng khốc liệt.
Để khắc phục những khó khăn của nền kinh tế, ông Thiên đưa ra ba giải pháp: Thứ nhất, ưu tiên hàng đầu là cải cách tiền lương khu vực nhà nước, làm cho tiền lương xứng đáng với công việc, từ đó thiết lập kỉ cương, ưu tiên thứ hai là cho doanh nghiệp nhà nước, thứ 3 là đầu tư vào ngân hàng.
Thứ hai, phải chấp nhận trả giá, chịu đau để cắt giảm đầu tư công, tình thế hiện nay là rất khẩn cấp, không thể tiếp diễn theo hướng cũ.
Thứ ba, phải tiến hành phối hợp chính sách tốt hơn, đặc biệt phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa; trong đó cần đặt trọng tâm vào chính sách tài khóa, nghĩa là Nhà nước cần chú ý cắt giảm chi tiêu.
Còn theo ông Trương Đình Tuyển, Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, về tổng thể, khó khăn đối mặt cũng là cơ hội để tái cấu trúc hệ thống doanh nghiệp. Ông đưa ra lời khuyên về khía cạnh tái cơ cấu sản phẩm. Cụ thể, doanh nghiệp nào đang kinh doanh xuất khẩu về nông sản, lương thực thì chúng ta vẫn còn rất nhiều cơ hội và hãy tận dụng cơ hội này để có thể chiếm lĩnh một vị trí trong cuộc cạnh tranh mang tính chất ưu thế, so sánh. Những khó khăn trong quá trình sản xuất nông sản lương thực của Thái Lan do hậu quả của tình trạng lũ lụt trong một thời gian dài vô hình dung trở thành điều kiện thuận lợi cho những mặt hàng nông sản, lương thực tương tự của Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu.
Ông Nguyễn Tất Thịnh- Hiệu trưởng trường Doanh nhân PTI cũng cho rằng, nói đến doanh nghiệp là nói đến sản phẩm, vì thế doanh nghiệp có quy mô nhỏ phải lựa chọn sản phẩm với vốn vòng quay nhanh, ít sử dụng vốn, bám chắc vào thị trường tại chỗ… và khi doanh nghiệp tạm thời chưa phát triển được thì phải thay đổi chiến lược liên tục, dịch chuyển về chỗ an toàn rồi mới kiếm tìm lợi nhuận.
Lương Tuấn