Đối diện với tương lai khủng hoảng thừa lúa gạo?

10:54:57 | 6/7/2012

Là nước xuất khẩu lúa gạo lớn thứ hai thế giới với khoảng 1/3 sản lượng quốc gia và 70% sản lượng của Đồng bằng sông Cửu Long được xuất khẩu hàng năm nhưng Việt Nam vẫn chưa làm giàu được từ cây lúa. Mới đây một dự báo được các chuyên gia đưa ra là khoảng 50 năm nữa, Việt Nam sẽ phải đối mặt với khủng hoảng thừa lúa gạo.

Điều này đặt ra câu hỏi đối với các nhà hoạch định chính sách là liệu Việt Nam có nên chú trọng vào tăng năng suất và đẩy mạnh xuất khẩu hay không khi nhu cầu tiêu thụ gạo đã thay đổi.

Những thành tựu trong quá khứ

Hiện nay, Việt Nam đang xuất khẩu gần 1/3 sản lượng gạo, đóng góp hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo trên thế giới. Theo phân tích của Tiến sĩ Steven Jaffee - Điều phối viên Chương trình hợp phần Phát triển nông thôn, Ngân hàng Thế giới, mặc dù có các vấn đề ở từng địa phương về hạn hán, sâu hại và dịch bệnh, những giai đoạn ngập úng kéo dài hoặc tình trạng bị xâm mặn, mô hình sản xuất lúa quốc gia của Việt Nam vẫn ổn định và nhất quán, hoàn toàn trái ngược với các nước sản xuất lúa gạo lớn khác ở châu Á.

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn- Viện trưởng Viện chiến lược chính sách nông nghiệp, nông thôn cũng đã có dẫn chứng, trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được hoặc vượt qua các mục tiêu của mình về nguồn cung lương thực, hiện đang là nước sản xuất gạo và lương thực có mức thặng dư lớn. Tính về khối lượng, Việt Nam đang chiếm khoảng 22% lượng gạo xuất khẩu trên toàn thế giới. Những thành công trong tăng năng suất lúa và sản xuất lúa trên toàn quốc trong quá khứ đóng vai trò then chốt tạo ra những tiến bộ vượt bậc của Việt Nam trong giảm nghèo, đói và suy dinh dưỡng trong suốt giai đoạn từ cuối những năm 1980 đến giữa những năm 2000. Thành công của ngành lúa gạo Việt Nam đã đóng góp một phần quan trọng giúp Việt Nam chuyển từ một quốc gia thu nhập thấp sang một quốc gia có thu nhập trung bình- Tiến sĩ Sơn khẳng định.

Nguy cơ hiện hữu

Không thể phủ nhận được những đóng góp của xuất khẩu lúa gạo đối với nền tế Việt Nam trong thời gian qua nhưng ông Jaffee cho hay giá trị của gạo xuất khẩu Việt Nam là bao nhiêu thì vẫn chưa xác định được chính xác. Hiện nay, những chi phí như quản lý hạ tầng, tài nguyên nước; thiệt hại đối với nuôi trồng thủy sản; tác động xấu đến môi trường do sử dụng nhiều thuốc trừ sâu; chi phí tài chính của Nhà nước để hỗ trợ lãi suất cho các công ty gạo; chi phí cơ hội khi sử dụng đất, nước, nhân công vào mục đích khác vẫn chưa hề được tính toán trong giá trị xuất khẩu gạo.

Ông Peter Timmer, Giáo sư của đại học Harvard đã đưa ra rất nhiều dẫn chứng để dự báo rằng, khoảng 50 năm nữa, Việt Nam sẽ đối mặt với khủng hoảng thừa lương thực khi tiêu thụ lúa gạo của thế giới đạt đỉnh. Vì theo ông Timmer, tiêu thụ lương thực tại Châu Á đang giảm rất nhanh. Dẫn từ nguồn dữ liệu trong bảng cân đối lương thực của tổ chức Nông lương thế giới (FAO) cho thấy, nếu như năm 1961, tỉ trọng calo từ gạo chiếm khoảng 40% trong tổng tiêu thụ calo trên đầu người thì đến nay, tỉ trọng này chưa đầy 30%. Tỉ lệ tăng tiêu thụ gạo trung bình hàng năm đối với khu vực châu Á không những tăng mà còn giảm, đặc biệt giảm rất mạnh từ năm 1970 đến nay (giảm 0,47%).

Như vậy, hệ số co dãn của nhu cầu về gạo theo thu nhập ngày càng giảm. Trong khi đó, tỷ trọng ngân sách chi cho lúa gạo sụt giảm còn nhanh hơn. Hiện nay chỉ khoảng 10% ngân sách chi cho lương thực nhưng 90% ngân sách này lại chi cho các sản phẩm chế biến và giá trị gia tăng khác. “Điều này cho thấy người nông dân không được hưởng lợi nhiều trong chuỗi giá trị gia tăng này”, ông Timmer nói.

Một điểm nổi bật khi phân tích giá lúa gạo trong hơn 110 năm qua cho thấy xu hướng chính là xu hướng đi xuống của giá lương thực. Nếu tách yếu tố lạm phát thì giá lương thực giảm khoảng 1,6% mỗi năm và tốc độ giảm giá lương thực ngày càng tăng khi năng suất lúa gạo tăng lên.

Ở khía cạnh khác, Ông Steven Jaffee, Chuyên viên cao cấp ngành nông nghiệp của Ngân hàng Thế giới cho hay, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng lại chưa có một chiến lược xuất khẩu nào cụ thể. Trong khi đó, Việt Nam sản xuất gạo ngày càng tăng nhưng không đem lại an ninh lương thực tốt hơn khi tình trạng suy dinh dưỡng vẫn không hề cải thiện trong 5 năm qua. “Ngay cả ĐBSCL được gọi là vựa lúa của Việt Nam cũng không có mối liên hệ giữa tăng trưởng lúa gạo và tiến bộ liên quan đến suy dinh dưỡng khi ĐBSCL chỉ xếp thứ 7 trong số 8 vùng về giảm suy dinh dưỡng trẻ em trong thời kỳ bùng nổ xuất khẩu thập kỷ qua” - ông Jaffee chia sẻ.

Hơn nữa, ngay tại ĐBSCL, người dân cũng không làm giàu được từ cây lúa khi thu nhập của nông dân có quy mô sản xuất dưới 1 héc ta từ lúa chỉ chiếm khoảng 18% còn lại là từ các hoạt động phi nông nghiệp khác. Đối với nông dân có diện tích sản xuất hơn 3 héc ta thì thu nhập từ lúa cũng chỉ chiếm 67% trong tổng thu nhập của họ.

Cách giải quyết bài toán khủng hoảng thừa

Trên cơ sở đó, ông Jaffee cho hay, nhằm đảm bảo an ninh lương thực, trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam nên tách biệt hẳn các hệ thống và chiến lược đối với xuất khẩu gạo mang tính xã hội và thương mại. Tức tất cả các hoạt động xuất khẩu gạo phải dựa trên cơ sở thương mại với một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.

Không nên hạn chế xuất khẩu bằng cơ chế quota mà nên điều tiết bằng thuế xuất khẩu khác nhau. Doanh thu từ thuế xuất khẩu có thể được đầu tư trở lại để hỗ trợ chương trình cạnh tranh và phát triển lúa bền vững.

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, cũng đưa ra nhiều kiến nghị chính sách cho ngành lúa gạo. Tuy nhiên, đối với khía cạnh xuất khẩu, ông Sơn đề xuất nên cải thiện hoạt động của Hiệp hội lương thực (VFA) với sự tham gia của nông dân, doanh nghiệp nhỏ ở tất cả các khâu vào Hiệp hội, không nhất thiết chỉ là xuất khẩu.

Hơn nữa, cần đẩy mạnh cổ phần hóa và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh lương thực. Áp dụng các chính sách điều tiết thị trường như kho tàng, thuế xuất nhập khẩu.

Nguyễn Thanh