14:05:00 | 13/11/2012
Rơi vào vòng xoáy khủng hoảng, gần 100 nghìn doanh nghiệp phá sản chỉ trong hai năm qua. Nhiều doanh nghiệp khác hiện đang phải “co cụm”, hoặc chuyển hướng kinh doanh để tồn tại. Song cũng có nhiều doanh nghiệp lại coi khủng hoảng là một cơ hội hơn là thách thức.
Khủng hoảng giúp doanh nghiệp lớn hơn
Chịu chung cảnh số đơn đặt hàng sụt giảm nhưng ông Hà Nam, chủ một doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất, lại coi khủng hoảng kinh tế là một cơ hội hơn là một thách thức. Từ nhiều năm quan, công ty của ông thuê một căn nhà mặt ngõ ở phố Nguyên Hồng, Hà Nội. Nhưng do khủng hoảng, giá nhà và văn phòng cho thuê hiện đã giảm mạnh nên ông Hà Nam đang lên kế hoạch thuê hẳn một không gian riêng tại Tòa nhà Keangnam để làm văn phòng công ty. Ông Nam cũng quyết định bỏ thêm một khoản tiền để đóng lại toàn bộ đồ nội thất để “biến” văn phòng công ty “vừa là nơi làm việc, vừa là nơi trưng ông, quảng bá các sản phẩm của công ty”. Theo ông Nam giải thích, thuê văn phòng ở Keangnam, nơi tập trung nhiều văn phòng nước ngoài, nhiều công ty lớn, nên rất phù hợp với chiến lược sản phẩm của công ty là hướng tới. Ông cho biết, với cùng số tiền nhưng nay ông có thể thuê được văn phòng “xịn”, lại không phải lo tự vận hành, bảo vệ, chỗ để xe như trước kia. Về mặt nhân sự, ông Hà Nam cũng nhận định, đây là thời điểm tốt để cải tổ. Ông nói: “Văn phòng mới cần phải có một đội ngũ nhân sự mới phù hợp với chiến lược kinh doanh mới”. Thực tế, giá các nhân sự cấp cao, nhân công có trình độ hiện đang khá rẻ, vì vậy ông sẽ tranh thủ tuyển, thay đổi một số vị trí mới trong công ty. Ông Hà Nam nói: “Đây chính là cơ hội cơ cấu lại nhân sự, sở hữu chất xám rẻ, tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp”.
Thực tế trước và sau một thời gian dài kinh tế chúng ta hội nhập với thế giới, các doanh nghiệp đã luôn được cảnh báo về việc phải nâng cao khả năng cạnh tranh và lộ trình bảo hộ. Cuộc khủng khoảng năm 2009 và lần này đã cho thấy rõ một điều là các doanh nghiệp Việt Nam rất dễ bị tổn thương do khả năng cạnh tranh thấp.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ riêng năm 2011, số doanh nghiệp giải thể, dừng hoạt động là hơn 53 nghìn và chín tháng đầu năm 2012 là hơn 40 nghìn, chiếm tới gần một nửa trong tổng số khoảng 200 nghìn doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động từ trước đến nay đã chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang khó khăn tới mức nào.
Việt Nam đang ở đâu trong chuỗi giá trị
Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), ở cấp độ toàn bộ nền kinh tế, khả năng cạnh tranh của Việt Nam được đánh giá tương đối thấp, xếp hạng thứ: 49/53 năm 1997, 53/59 năm 2000, 81/117 năm 2005, 59/139 năm 2010, 65/142 năm 2011, và 75/144 năm 2012. Nhìn tổng thể, ở khu vực Đông Nam Á, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam vẫn thấp hơn đáng kể Indonesia, Malaysia, Singapore, và Thái Lan. Điều đó phần nào giải thích vị thế yếu của DN Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực. Với vai trò những người nhận hợp đồng gia công và lắp ráp, DN Việt Nam thường nằm ở phần có GTGT thấp nhất trong chuỗi giá trị sản xuất.
Đánh giá về khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam trong kinh tế hội nhập, tiến sĩ Võ Trí Thành đưa ra nhận định chung là “khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam còn yếu cả trong các hoạt động bổ trợ và cả trong các hoạt động cơ bản, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến mối liên kết hiệu quả về mặt chi phí. Khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam vẫn được nhìn nhận là tương đối thấp ngay cả với mức bảo hộ còn tương đối cao”. Tiến sĩ Võ Trí Thành nói: “Quá trình Đổi mới, cải cách cho thấy chính thị trường và cạnh tranh, chứ không phải là những can thiệp mang tính bảo hộ, trợ cấp của nhà nước, mới là nhân tố quyết định giúp DN Việt Nam trưởng thành”.

Tiến sĩ Võ Trí Thành cũng cảnh báo, sức mạnh độc quyền/chi phối thị trường của nhiều DN trong nước cũng khó được duy trì lâu. Hơn nữa, theo quy định của WTO và nhiều cam kết khu vực, các biện pháp can thiệp truyền thống của Nhà nước nhằm ưu ái một số ngành/DN hoặc tạo lợi thế cho DN trong nước so với các công ty nước ngoài cũng sẽ bị hạn chế đáng kể. Như vậy, việc nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của DN phụ thuộc rất lớn vào nỗ lực của bản thân DN.
Tiến sĩ Võ Trí Thành phân tích, lợi thế so sánh tĩnh của các DN Việt Nam hiện chủ yếu là từ nguồn nhân công dồi dào với mức lương tương đối thấp. Tuy nhiên, tập trung khai thác quá mức lợi thế chi phí lao động thấp sẽ là một trở ngại với DN trong việc dần phát triển các sản phẩm có GTGT cao hơn. Việc duy trì đội ngũ nhân công rẻ mà thiếu chính sách đào tạo và đãi ngộ hợp lý sẽ cản trở động lực tăng năng suất lao động và khả năng tận dụng kinh nghiệm của người lao động tích lũy được trong quá trình làm việc. Trong khi đó, tăng năng suất lao động dường như là hợp lý nhất trước tình trạng các DN còn thiếu vốn và có trình độ công nghệ thấp.
Tuy nhiên ông Thành lưu ý, nhìn nhận theo chi phí (thấp) mới chỉ là sự khởi đầu tạo khả năng cạnh tranh. Sự phát triển kinh doanh năng động là việc chuyển từ lợi thế so sánh về chi phí đến khả năng cạnh tranh về chất. Đó chính là các kỹ năng tổ chức, quản lý của nhà kinh doanh trong toàn bộ các hoạt động cơ bản của chu trình sản xuất kinh doanh: từ tiền sản xuất đến bản thân quá trình sản xuất (sử dụng lao động, nâng cao kỹ năng lao động và bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng), và sau sản xuất (marketing, dịch vụ sau bán hàng, và tiếp cận thị trường nước ngoài).
Tại một hội thảo về doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập mới đây, tiến sĩ Võ Trí Thành kết luận, DN khó có thể trụ vững lâu dài trên các thị trường cạnh tranh nếu thiếu khả năng chi trả cho các nguồn lực được sử dụng và duy trì được lợi nhuận. Nền kinh tế cũng không thể tăng trưởng bền vững nếu từng DN hạn chế trong khả năng cạnh tranh và trong việc tạo GTGT. Ông Thành nhấn mạnh: “Song mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi DN có những nỗ lực cần thiết và Nhà nước biết đổi mới tư duy và hoàn thiện chính sách của mình, đặc biệt khi nước ta đang hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu”. Hơn nữa, nỗ lực của cả DN và Nhà nước sẽ thúc đẩy lẫn nhau thông qua thông tin phản hồi và lợi ích mà DN và cả nền kinh tế thu được. Chính ở đây, vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp càng có ý nghĩa nổi bật, ông Thành gợi ý thêm.
Nguồn: nhandan.com.vn