ĐBSCL cần “cú hích” chiến lược

13:58:24 | 5/12/2012

Sau 25 năm đổi mới và 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị, kinh tế vùng ĐBSCL có những chuyển biến rõ nét và đạt được những thành tựu khá toàn diện, ngày càng khẳng định vị thế là vùng chủ yếu đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hàng hóa của cả nước.

Vựa lúa của cả nước

Theo ông Nguyễn Phong Quang - Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, biểu hiện rõ nhất của thành công này là môi trường đầu tư vùng được cải thiện, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đều nằm ở tốp khá và tốt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn vùng bình quân 11,7%/năm, cao hơn 1,8 lần so bình quân cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Cuối năm 2010 so với giai đoạn 2001-2005: tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP từ 44,92% giảm còn 39%; ngành công nghiệp, xây dựng thu hút nhiều lao động, đưa tỷ trọng từ 23,3% lên 26%; tỷ trọng thương mại, dịch vụ từ 31,78% lên 35%.

Không chỉ có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, giờ đây ĐBSCL đã trở thành vùng cung cấp lương thực – thực phẩm nông – lâm sản lớn nhất cả nước, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đóng góp vào an ninh lương thực thế giới. Năng suất lúa toàn vùng tăng đã nâng sản lượng từ 16 triệu tấn lên 21,6 triệu tấn, tăng 35%. Hàng năm toàn vùng xuất khẩu trên 6 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch trên 3 tỷ USD, chiếm khoảng 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước. Nuôi trồng thủy, hải sản có nhiều tiến bộ rõ nét. Tỷ trọng nuôi trồng thủy sản từ 236.200 ha năm 2001 lên 736.400 ha, sản lượng đạt 1,9 triệu tấn, tăng 4,4 lần. Trong đó, cá tra, tôm trở thành một trong những ngành kinh tế chiến lược của quốc gia

Kết cấu hạ tầng giao thông từng bước được xây dựng một cách hoàn chỉnh, gắn kết giao thông liên vùng, góp phần làm thay đổi nhanh diện mạo đô thị, nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bước đầu đáp ứng nhu cầu đầu tư, phát triển và an sinh xã hội. 10 năm qua ĐBSCL đã xây dựng mới trên 10 tuyến quốc lộ, tổng chiều dài hơn 2.500 km; gần 70 tuyến tỉnh lộ, mở mới 9.117 km, nâng cấp 23.218 km đường các loại, xây dựng 11.453 cầu, kết nối với hệ thống quốc lộ. Hệ thống giao thông bộ, sân bay, cảng biển trên đảo Phú Quốc (Kiên Giang) được tập trung đầu tư xây dựng, đáp ứng một phần yêu cầu phát triển và phòng thủ đất nước. Giao thông thông suốt tạo sức bật cho kinh tế phát triển, theo đó chất lượng đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Ngày nay tại vùng đất chính rồng, nhiều cụm dân cư vượt lũ phát triển thành đô thị nông thôn mới, góp phần phát triển kinh tế, giúp ổn định đời sống cho 132.371 hộ dân.

Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,32%

Cùng với những thành tựu trong phát triển kinh tế, các hoạt động văn hóa – xã hội cũng có nhiều khởi sắc. Trong đó giáo dục và đào tạo là một trong lĩnh vực đột phá của vùng. Qua một thập niên, ĐBSCL đã thành lập mới và mở rộng, nâng cấp nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các cơ sở đào tạo nghề, đặc biệt là Trường Đại học Cần Thơ trở thành trường trọng điểm của vùng. Hoàn thành việc xoá lớp học 3 ca đúng tiến độ. Các tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer đều có trường dân tộc nội trú, hiện có 26 trường với 7.500 học sinh theo học, chiếm 10,27% học sinh người dân tộc thiểu số đang học ở bậc trung học. Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân của vùng vựa lúa cũng đã đạt được những thành tựu quan trọng; mạng lưới y tế trong vùng được tăng cường và phát triển.

Bên cạnh đó, hoạt động văn hóa - xã hội được tổ chức với nhiều hình thức, nội dung phong phú, thiết thực, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Công tác đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội được giải quyết kịp thời, đúng đối tượng. Giải quyết việc làm được tập trung thực hiện, đạt bình quân 332.000 lao động/năm. Tỷ lệ dân nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh đạt trên 87%. Tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng giảm nhanh, từ 14,18% cuối năm 2000 xuống còn 7,32%. Thông qua các hình thức vận động, nhiều địa phương như Hậu Giang, Trà Vinh, Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre và Kiên Giang đã huy động nguồn lực từ cộng đồng xã hội hàng ngàn tỷ đồng để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội.

Đặc biệt trong 1 thập niên qua, ĐBSCL có thêm 1 tỉnh trực thuộc T.Ư, 10 thành phố và 4 thị xã trực thuộc tỉnh. Tp.Cần Thơ lên đô thị loại I trực thuộc T.Ư, đã và đang đóng vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả vùng. Cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu nối liền QL1A trên dãy đất hình chữ S đã trở thành biểu tượng sinh động nhất của thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết 21 tại vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm của cả nước.

Nhiều “nút thắt”

Qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 21, mặc dù đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng song tình hình phát triển vùng ĐBSCL vẫn còn ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững và toàn vùng đang phải đối mặt với không ít thách thức.

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Tam nông) ở ĐBSCL đã có những bước tiến và có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế đất nước (góp 27% GDP của đất nước) nhưng soát xét lại, khu vực này vẫn còn nhiều trăn trở. TS Lê Văn Bảnh - Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL cho biết, các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy sự phát triển vùng ĐBSCL kém bền vững vì sản lượng nông nghiệp và xuất khẩu tăng nhanh nhưng thu nhập hộ nông dân không tăng theo tương xứng, khiến cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng. Ngoài ra những thách thức khác trong phát triển Tam nông cũng đã được nhận diện, trong đó tập trung vào các vấn đề về rào cản kỹ thuật, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm; thách thức về phát huy tiềm năng, lợi thế khi còn thiếu liên kết vùng; đầu tư chưa đồng bộ; liên kết vùng và vai trò tham gia “4 nhà” còn lỏng lẻo khi giải quyết các thách thức của vùng….

Một “nút thắt” khó tháo gỡ nữa, đó là quy mô công nghiệp của vùng ĐBSCL nhỏ, giá trị gia tăng thấp, chủ yếu công nghiệp địa phương. Số doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 80% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn. Khả năng cạnh tranh của công nghiệp trong vùng rất hạn chế, thêm vào đó là trình độ trang thiết bị và công nghệ lạc hậu, năng lực sản xuất hạn chế, chất lượng sản phẩm chưa cao, chi phí trung gian còn lớn.

Những tồn tại, yếu kém và cả nguy cơ trên đã tác động trực tiếp đến đời sống của người dân vùng ĐBSCL, vì thế sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 21, đời sống người dân tuy đã được cải thiện một bước nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của vùng và có nguy cơ tụt hậu, đòi hỏi cần phải có những chính sách mang tính chiến lược lâu dài và sự hỗ trợ kịp thời từ phía Chính phủ. Nếu làm được điều này, chắc chắn giai đoạn tới ĐBSCL sẽ “cất cánh” với tốc độ nhanh, cường độ mạnh hơn nhiều so với một thập niên qua, tự tin vươn lên hòa cùng nhịp điệu phát triển kinh tế sôi động của cả nước.

Thu Thủy