10:47:01 | 6/12/2012
Giáo sư John Rand đưa ra những kết luận rất mới mẻ như: Số doanh nghiệp nhỏ và vừa thoát ra khỏi khỏi thị trường thấp hơn các doanh nghiệp siêu nhỏ. Điều này cho thấy, việc khởi sự một doanh nghiệp đã khó, nhưng việc quan trọng hơn là phải tăng cường được khả năng kinh doanh cho các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Mới đây, Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã tổ chức hội thảo công bố báo cáo Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam kết quả điều tra năm 2011.

Theo bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cũng như những cuộc điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa trước đây, cuộc điều tra năm 2011 được phối hợp thực hiện bởi 4 cơ quan bao gồm: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Viện Khoa học lao động và xã hội, Khoa Kinh tế (Trường Đại học Copenhagen) và Viện Nghiên cứu kinh tế phát triển Thế giới (Trường Đại học Liên hợp quốc), với sự tài trợ của Cơ quan hợp tác phát triển Đan Mạch.
Theo giáo sư Finn Tarp, đại học Copenhagen (Đan Mạch), cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Các bản báo cáo điều tra theo dạng này là hết sức cần thiết đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình biến đổi mô hình kinh tế. Theo đó, kể từ khi Việt Nam tiến hành đối mới, việc chuyển đổi cấu trúc sản xuất đã diễn ra cùng với chuyển đổi thị trường lao động (tốc độ thấp). Ngoài ra, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò to lớn trong việc tạo thêm nhiều việc làm và sản phẩm đầu ra. Do đó, việc hiểu và nắm vững những quy luật về tiềm năng cũng như trở ngại của khu vực kinh tế đặc thù này về mặt chính sách. Một điểm mới trong bản báo cáo mới này là có các nghiên cứu theo hình thức phi chính thức.
Giáo sư John Rand, Trường đại học Copenhagen nhận định: Một trong những trở ngại lớn mà bản báo cáo này chỉ ra chính là chỉ tăng trưởng năng động, đổi mới sáng tạo, yếu tố quyết định giúp doanh nghiệp tăng trưởng đang có xu hướng giảm sâu. Một vấn đề nổi cộm khác đặt ra cho doanh nghiệp Việt Nam là việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng cũng được nghiên cứu rất chi tiết. Theo đó, số lượng doanh nghiệp có khoản vay phi chính thức cao gấp đôi số lượng doanh nghiệp có khoản vay chính thức. Điều này một lần nữa khẳng định: Nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn rất cao và các rào cản tín dụng đối với khối doanh nghiệp này chưa được các cơ quan nhà nước ưu tiên tạo điều kiện. Nói cách khác, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua các rào cản này vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng.
Một điểm đáng chú ý trong bản kết luận này là việc các doanh nghiệp bỏ ra nhiều chi phí không chính thức theo hình thức (bôi trơn, hối lộ) không tạo ra nhiều lao động hơn các doanh nghiệp không đưa hối lộ. Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp làm ăn chân chính vẫn có thể phát triển một cách bình thường, môi trường kinh doanh ở Việt Nam đã có rất nhiều cải thiện trong những năm gần đây.
Cũng theo Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Đây là một trong những nghiên cứu công phu và có tính hệ thống về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thể hiện qua cách tiếp cận rất có giá trị như: Nghiên cứu đã phân tích được các vấn đề về môi trường kinh doanh từ góc độ quy mô doanh nghiệp so sánh tác động của môi trường kinh doanh đối với từng nhóm doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng cho thấy sự phát triển của doanh nghiệp trong chuỗi thời gian. Ngoài ra, nghiên cứu lồng ghép được các khía cạnh giới trong phân tích, không chỉ đơn thuần là sự phát triển của doanh nghiệp do nữ giới lãnh đạo, mà còn đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp do nam hoặc nữ lãnh đạo.
Một vấn đề khác là đáng báo động là tỷ lệ doanh nghiệp cải tiến sản phẩm có xu hướng giảm. Điều này có những nguy cơ quan khi mà thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu là thị trường nội địa trong đó vấn nạn hàng giả hàng nhái đầy rẫy. Chính vì vậy việc thiếu hụt khâu cải tiến mẫu mã sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường này và các thị trường ngách là hết sức cần thiết. Mặt khác việc giảm đáng kể các tổ chức công đoàn và số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tổ chức công đoàn đang có chiều hướng gia tăng. Cụ thể, vai trò của các tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp này rất mờ nhạt và hầu như chưa được quan tâm thỏa đáng, trong khi khu vực này đang tạo ra 60 - 70% lao động phi nông nghiệp. “Điều này dẫn đến chất lượng việc làm trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất thấp”, Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hằng phân tích.
Văn Nam