10:18:39 | 4/2/2013
Theo Bộ Công Thương, năm 2012, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành phấn đấu đạt khoảng 126,1 tỷ USD (tăng 10% so với năm 2012). Để đạt được con số đáng mơ ước trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn này, việc làm sao để tận dụng những ưu đãi thuế quan thông qua các hiệp định thương mại mậu dịch tự do (FTA) giữa Việt Nam và các nước lại một lần nữa được xới lên.
Ở những thời điểm khó khăn nhất trong năm 2010, 2011, 2012, không ít doanh nghiệp dệt may, thủy sản vẫn có những đơn hàng với lượng hàng nhất định sang các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN. Thành quả này – theo nhận định của các DN một phần chính là nhờ các Hiệp định FTA. Cụ thể, Hiệp định đối tác kinh tế Việt – Nhật (VJEPA) có hiệu lực từ năm 2009 đã giúp các sản phẩm dệt may xuất khẩu từ Việt Nam có nguồn gốc nguyên liệu từ Việt Nam, Nhật Bản hoặc các nước ASEAN khi vào Nhật đều hưởng mức thuế nhập khẩu bằng 0%, thay vì 10% như trước.
Theo thống kê của Bộ Công Thương, hiện nay, kim ngạch xuất khẩu sang khu vực FTA của nước ta đã chiếm khoảng 46,7% tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) năm 2012, vào khoảng 53,5 tỷ đồng. Ông Phan Văn Chinh – Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương cho biết: Dự kiến, sau khi kết thúc phiên đàm phán TPP và đàm phán FTA trong EU thì dung lượng thị trường FTA sẽ lớn hơn rất nhiều, chiếm đến khoảng 86% KNXK của nước ta.
Cũng theo thống kê của Bộ Công Thương, trong năm 2012, KNXK sang một số nước có sử dụng Hiệp định FTA đã có sự tăng trưởng đáng ghi nhận, trong đó khu vực ASEAN đã tăng trưởng khoảng 27,2%; Nhật Bản tăng 39%, Hàn Quốc tăng 18%. Theo đánh giá của ông Chinh: Kết quả này có được một phần là do các DN đã tận dụng tốt cơ hội về sử dụng những xuất xứ ưu đãi về thuế trong FTA, điều này đã tạo điều kiện tốt cho DN trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng hóa vào các thị trường này. Cụ thể, KNXK nhờ sử dụng những xuất xứ ưu đãi năm 2012 của DN đạt khoảng 18 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ, tương đương 15,7% tổng KNXK và chiếm 33,6% KNXK sang các thị trường có FTA. Đối với các thị trường cụ thể, nếu xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 5,6 tỷ USD thì riêng khu vực FTA đã chiếm khoảng 4,2 tỷ USD, chiếm đến gần 76%; Nếu xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 12,2 tỷ USD thì riêng khu vực FTA là 3,25 tỷ USD, chiếm khoảng 27%; Khu vực ASEAN là 22%; Khu vực Úc và Ấn Độ thấp hơn với khoảng 19 - 22%... Đặc biệt hơn nữa, tỷ lệ này đã tăng dần theo từng năm, từ mức 9,43% năm 2009 lên mức 13,7% năm 2010, 15% năm 2011 và 15,7% năm 2012.
Đến nay, để hỗ trợ cho DN tận dụng tốt hơn những lợi ích từ các Hiệp định FTA, bên cạnh việc tuyên truyền, một số giải pháp thiết thực khác đã và đang được triển khai như rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho hàng hóa từ ba ngày làm việc xuống còn bốn đến tám tiếng trong ngày. Như vậy, để có chứng nhận xuất xứ hàng hóa, DN có thể đưa hồ sơ đến các cơ quan chức năng và được tiến hành cấp ngay. Đây là một trong những động thái nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho DN trong việc tận dụng tối đa những lợi thế về thuế từ những Hiệp định hiệu quả này.
Thêm nhiều hỗ trợ cho doanh nghiệp
Nhận định về những hiệu quả mà những Hiệp định FTA mang lại, ông Trần Bá Cường, Trưởng phòng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) - chuyên gia đàm phán Vụ Chính sách Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho biết: Thời gian qua, không ít các DN Việt Nam đã tận dụng được những ưu thế của hiệp định Thương mại tự do. Tuy nhiên, những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam là chưa hiểu biết nhiều về FTA và các cách tận dụng FTA. Một số doanh nghiệp mặc dù có hiểu biết về quy tắc xuất xứ nhưng việc áp dụng vào thực tế còn lúng túng. Doanh nghiệp cũng chưa cập nhật đầy đủ về cam kết cắt giảm thuế quan hàng năm của các đối tác trong các FTA với Việt Nam như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc... Cùng với đó, hầu hết doanh nghiệp chưa nắm bắt được hay cập nhật đầu đủ các thông tin về hàng rào kỹ thuật vầ các biện pháp kiểm dịch động thực vật. Doanh nghiệp chưa nghiên cứu cụ thể về quy tắc xuất xứ, mức cắt giảm thuế quan trước khi lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu. Điều này dẫn đến những rủi ro có thể phát sinh khi xuất khẩu.
Để giải quyết vấn đề tồn tại này, Bộ Công Thương đã xây dựng và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tăng cường quản lý chứng nhận xuất xứ. Theo đề án này, Bộ Công Thương sẽ chủ trì, phối hợp với các đơn vị tập trung vào các giải pháp, thứ nhất là xây dựng và đẩy nhanh việc thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển và thủ tục đầu tư vào các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, đáp ứng được tiêu chí hàm lượng nội địa hóa và xuất xứ hàng hóa. Thứ hai là đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp C/O thông qua việc tăng cường cấp C/O điện tử. Thứ ba là nâng cấp, hoàn thiện hệ thống cấp giấy chứng nhận xuất xứ điện tử, tạo điều kiện cho DN, đồng thời có kế hoạch triển khai việc trao đổi xuất xứ điện tử cho một số đối tác lớn trong khu vực. Thứ tư là nghiên cứu đề án tự chứng nhận xuất xứ theo hướng cho phép DN tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho mình. Đây là bước tiến lớn trong lộ trình giúp DN làm sao ngày càng tận dụng tốt những ưu đãi trong FTA. Thứ năm là duy trì đều đặn việc phổ biến chứng nhận xuất xứ sao cho DN ngày càng biết nhiều hơn để tận dụng những ưu đãi này.
Nguồn; nhandan.com.vn