Trở về câu chuyện hạt lúa, củ khoai

09:33:31 | 30/1/2013

Trong bức tranh chung “thiếu sáng” của năm 2012, nông nghiệp – một ngành vốn ít được chú ý đầu tư đã nổi lên thành một trụ cột chống đỡ cho nền kinh tế.

Không từng được rót vốn mạnh như các “ông lớn” tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, bất động sản, xây dựng… nông nghiệp luôn luôn đứng ở vị trí khiêm tốn về đầu tư từ ngân sách.

Điểm sáng của nền kinh tế

Không nhăm nhăm thu tiền từ trong túi của người dân như bất động sản hay hưởng lợi từ chính sách như ngân hàng; trong năm 2012 đầy gian khó, với tổng kim ngạch xuất khẩu tới 27,54 tỷ USD, trong đó xuất siêu 10,6 tỷ USD, ngành nông nghiệp đã đem về cho đất nước trên 200.000 tỉ đồng. Con số đó tương đương với số tiền đang được ước tính là cần thiết cho cuộc “giải cứu” thị trường bất động sản trong thời gian tới.

Chiếm khoảng một phần tư tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước là các sản phẩm nông, lâm- thuỷ sản. Có 3 mặt hàng đạt kim ngạch từ 3 tỷ USD trở lên (gạo, cà phê, đồ gỗ); 5 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên (cao su, cá tra, tôm, hạt điều, sắn và các sản phẩm sắn). Những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh là cà phê (tăng 36%, vượt Brazil, vươn lên đứng đầu thế giới), sắn và sản phẩm sắn (tăng 40,6%), rau quả (tăng 29%)… Riêng mặt hàng gạo năm 2012 đã ghi thêm kỷ lục mới về khối lượng xuất khẩu với 8,1 triệu tấn (tăng 13,9% so với năm 2011), thu về 3,7 tỷ USD.

Lượng xuất khẩu với nhiều mặt hàng vượt lên đứng thứ hạng cao, có một số mặt hàng đứng đầu thế giới đã làm nên mức tăng trưởng 2,72% của ngành nông nghiệp. Đây là mức tăng trưởng được đánh giá là hợp lý trong điều kiện kinh tế thế giới vẫn còn bất ổn, những khó khăn ở trong nước còn dồn tích lại từ nhiều năm trước, có nhiều điểm nghẽn mới ở cả đầu vào và đầu ra đối với doanh nghiệp do thiếu vốn, lãi suất cao, nợ xấu, tồn kho cao.

Trong câu chuyện kiềm chế lạm phát năm 2012 ở mức 7,5% (so với 18,13% năm 2011), nông nghiệp đóng góp một phần quan trọng. Giá cả của nhóm hàng hóa lương thực - thực phẩm cả năm tăng thấp, chỉ bằng 1/10 tốc độ tăng của các nhóm phi lương thực - thực phẩm.

Khi tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, đóng cửa tăng mạnh hoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh, nông nghiệp trở thành “bến đỗ” – nơi giải quyết công ăn việc làm cho người lao động thất nghiệp.

Nghịch lý đầu tư

Theo nhận định của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, Việt Nam phải phát triển kinh tế gắn với nông nghiệp. Nông nghiệp là yếu tố quan trọng để xóa đói giảm nghèo, làm tăng thu nhập cho nông dân. Vì thế, đầu tư vào lĩnh vực này là thật sự cần thiết.

Tuy vậy, mức đầu tư vào nông nghiệp thời gian qua không tương xứng với vai trò của nó đối với phát triển kinh tế. Các thống kê cho thấy, những năm 2000, tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp chiếm khoảng 13,8% GDP; sau đó giảm còn 7,5% năm 2005 và còn 6,45% vào 2008, rồi 6,26% năm 2010. Trong năm 2012 vốn đầu tư vào nông nghiệp từ nguồn vốn ngân sách Trung ương đạt 4.658 tỉ đồng trong tổng số 50.300 tỉ đồng (số liệu do Tổng cục thống kê công bố cuối năm 2012).

Nếu xét về đầu tư nước ngoài, nông nghiệp cũng là lĩnh vực có sức hấp dẫn kém. Mặc dù, ngành này đã có nhiều cố gắng nhằm làm mới mình và gia tăng sức hấp dẫn với dòng vốn ngoại; tỷ trọng vốn FDI trong lĩnh vực nông nghiệp giảm dần, năm 2007 đạt 5,2% và đến 2008 còn 3,3%, sau đó còn 1% vào năm 2009 và năm 2010; năm 2012 cũng chỉ đạt khoảng 1,6%.

Còn những băn khoăn

Ứng xử từ cơ chế thị trường trong nước cũng xếp người nông dân trực tiếp sản xuất, chiếm khoảng 70% dân số vào phía yếu thế. Họ chỉ được hưởng rất ít những lợi nhuận từ sản phẩm mình làm ra và luôn gánh chịu nhiều rủi ro. Tại vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long, người trồng lúa và nuôi trồng thủy sản luôn đối mặt với những khó khăn về giá cả, đầu ra của sản phẩm. Việc định giá bán phụ thuộc vào doanh nghiệp, khi thị trường trầm lắng, nguồn nguyên liệu dồi dào, doanh nghiệp ngưng thu mua, tạo áp lực rất lớn cho những nông dân cần quay vòng vốn để tái đầu tư vụ mới.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, quy mô trung bình một hộ 4,4 nhân khẩu, có 30% lợi nhuận thu được từ sản xuất lúa gạo, lợi nhuận bình quân 230 USD/người/năm tương đương 3,8 triệu đồng/người/năm hoặc 316.250 đồng/người/tháng. Mức này dưới cả ngưỡng nghèo hiện nay 400.000 đồng/người/tháng. Có hai lý do quan trọng khiến người nông dân Việt Nam nghèo: giá trị gia tăng trên sản phẩm hạt gạo còn quá thấp và qui mô sản xuất của từng hộ quá nhỏ.

Trong một câu chuyện bên lề cuộc hội thảo về chính sách với người nông dân trồng lúa, ông Nguyễn Đình Bích, chuyên gia nghiên cứu chiến lược phát triển thương mại (nguyên cán bộ Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương) nói rằng “Là một nước xuất khẩu, Việt Nam nên quan tâm đến kim ngạch tức số tiền thu về được bao nhiêu mới là điều quan trọng. Xuất nhiều mà ngoại tệ thu lại được chẳng bao nhiêu thì cũng không có ý nghĩa gì”. Chưa xây dựng được chuỗi quản lý chất lượng, phần lớn gạo xuất khẩu là hàng xá, đóng bao, chưa có thương hiệu thì dù có giữ vị trí đứng đầu thế giới, giá trị gạo xuất khẩu Việt Nam vẫn thấp, người nông dân vẫn thiệt nhiều hơn lợi.

Cùng với hạt gạo, diện tích nuôi cá tra, tôm sú càng lớn, giá cá, tôm ngày càng thấp. Nghịch lý đó là hệ quả của tình trạng doanh nghiệp tranh mua, tranh bán, tự cạnh tranh phá giá lẫn nhau. Đứng ở cuối chuỗi lợi nhuận là người nông dân. Vì vậy khó có thể “trách cứ” người nông dân khi họ vẫn quẩn quanh trong vóng xoáy “giá cao thì nuôi trồng, giá thấp thì phá bỏ”.

Nếu còn tâm lý coi nông nghiệp chỉ là chuyện hạt lúa củ khoai mỗi khi nền kinh tế “khỏe mạnh” thì không thể có một nền nông nghiệp bền vững. Cũng vì thế, không thể để người nông dân đứng mãi ở vị trí bất lợi trong chuỗi cung ứng những sản phẩm quan trọng cho cuộc sống của con người.

Một số chỉ tiêu năm 2013 của ngành nông nghiệp

Tốc độ tăng GDP ngành đạt 2,8 - 3%; tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành từ 3,7 - 4%; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 28,5 tỷ USD; tỷ lệ che phủ rừng 40,5% (năm 2012 là 40%); sản lượng lúa đạt 43,5 triệu tấn; sản lượng thủy sản 5,9 triệu tấn; thịt hơi các loại đạt 4,6 triệu tấn…

Thanh Yên