10:39:32 | 18/4/2013
Mặc dù chưa có văn bản pháp lý nào cho phép các doanh nghiệp góp vốn bằng thương hiệu, chưa quy định thương hiệu là một loại tài sản thì giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp lớn vẫn đang tăng lên từng ngày, và nhu cầu góp vốn bằng thương hiệu ngày càng lớn tại Việt Nam…
Thiếu cơ chế pháp lý
Việc góp vốn bằng thương hiệu đã trở nên quen thuộc trên thế giới, nhưng tại Việt Nam vẫn chưa có quy định nào hướng dẫn cụ thể việc định giá và ghi nhận giá trị này. Cơ chế pháp lý không đủ nhưng nhu cầu góp vốn bằng thương hiệu quá lớn đã khiến các doanh nghiệp trong nước lúng túng, thậm chí phải “lách luật” để góp vốn.
Đã có lúc, Bộ Tài chính nói “không” với yêu cầu được góp vốn bằng thương hiệu của các doanh nghiệp,quyền sử dụng nhãn hiệu của các doanh nghiệp không được công nhận là có giá trị để đem góp vốn. Điều này khiến cho các doanh nghiệp bị giảm mất lợi thế cạnh tranh.
Dễ dàng nhận thấy các thương hiệu như Trung Nguyên, Bitis, Việt Tiến… có giá trị tài sản rất lớn. Nếu tính các mã cố phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán, thì những SDx – công ty con của Tập đoàn xây dựng Sông Đà, VCx – “con cháu” của Vinaconex hay họ “L” của Tổng công ty lắp máy Lilama đều được các nhà đầu tư quan tâm hơn các mã bất động sản thương hiệu nhỏ khác và đều hút một lượng tiền rất lớn trên thị trường, sẵn sàng tạo ra những “sóng lớn” tăng giá.
Theo báo cáo kiểm toán năm 2007 của Công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Việt Nam (VAE) với một số công ty cổ phần có họ “SD” cho thấy việc ghi nhận giá trị thương hiệu của đơn vị góp vốn là tài sản cố định vô hình của đơn vị nhận góp vốn và giá trị góp vốn được hạch toán bằng việc trích khấu hao cho phần tài sản cố định vô hình.
Một trường hợp DN khác cũng đang thực hiện ghi nhận phần giá trị vốn góp bằng thương hiệu là tài sản vô hình, thực hiện trích khấu hao thời gian 20 năm là CTCP Đầu tư và Vận tải Dầu khí Vinashin (mã VSP), với giá trị ban đầu là 10 tỷ đồng.
Các loại luật “đá” nhau
Cách đây không lâu, Công ty TNHH Kinh Đô đã không được Tổng Cục thuế chấp nhận phép được góp vốn bằng giá trị thương hiệu. Lý do là theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 – Tài sản cố định vô hình, ban hành kèm theo quyết định số 149/2001/QĐ – BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính quy định về tiêu chuẩn ghi nhận tài sản thì thương hiệu mặc dù là tài sản vô hình được tạo từ nội bộ doanh nghiệp nhưng không được ghi nhận là tài sản.
Văn bản của Tổng cục Thuế qui định thương hiệu không phải là nguồn lực có thể xác định được, không đánh giá được một cách đáng tin cậy và DN cũng không kiểm soát được giá trị thương hiệu. Trong chuẩn mực kế toán 04 của Bộ Tài chính, thương hiệu cũng không được xem là tài sản và do đó không được góp vốn. Quyết định 203/BTC về Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định nêu rõ: “Các chi phí phát sinh trong nội bộ để doanh nghiệp có nhãn hiệu hàng hóa không được xác định là tài sản cố định vô hình mà hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ”.
Thế nhưng, theo Luật sở hữu trí tuệ thì Doanh nghiệp khi được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu của mình thì trở thành chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp nên có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu này hoặc có quyền chuyển giao (trong có có phương thức góp vốn) quyền sở hữu nhãn hiệu đó vào doanh nghiệp khác. Giá trị đầu tư của nhãn hiệu là một trong những tiêu chí đánh giá nhãn hiệu quy định tại điều 75 của Luật sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó Luật Doanh nghiệp cũng cho phép góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ (Điều 4).
Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy có sự chồng chéo giữa một số điều khoản trong các luật và chuẩn mực trên, khiến doanh nghiệp lúng túng khi hoạt động và vướng mắc khi xác định giá trị thương hiệu của mình.
Để khắc phục bất cập nêu trên, “gỡ vướng” cho doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã tích cực soạn thảo Thông tư Hướng dẫn thực hiện góp vốn và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu. Theo đó, các Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân và các chủ thể khác của pháp luật dân sự có Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được tham gia góp vốn và nhận vốn góp bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu.
Cụ thể bên góp vốn được độc quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu mà mình đang sở hữu (theo giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu) tại các doanh nghiệp. Bên góp vốn và bên nhận góp vốn cần thỏa thuận để đảm bảo bên nhận góp vốn không mang nhãn hiệu này góp vốn với doanh nghiệp khác. Trường hợp bên nhận góp vốn muốn được độc quyền sử dụng nhãn hiệu thì phải được bên góp vốn cam kết và thống nhất trong hợp đồng.
Khi góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu, các bên phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu. Bên góp vốn tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với tài sản là giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu đem đi góp vốn.
Hương Ly