Bình Thuận: Bức tranh đầu tư nhiều điểm sáng

09:59:12 | 9/5/2013

Được đánh giá là một trong những địa phương giàu tiềm năng phát triển kinh tế, cộng với sự năng động của chính quyền tỉnh, những năm qua Bình Thuận nhanh chóng vươn lên trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Thuận –ông Lương Văn Hải cho biết: “Trong thời gian tới, để tiếp tục nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư, tỉnh chú trọng kiến tạo môi trường đầu tư thông thoáng; đồng thời rà soát các quy định theo chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ, hạn chế tối đa các khó khăn đối với nhà đầu tư...”. Hồng Hạnh thực hiện.

Ông có thể cho biết Bình Thuận khởi động thu hút đầu tư nằm 2010 – 2012 bằng những chương trình, hành động cụ thể nào, những kết quả đạt được?

Giai đoạn 2010 – 2012, tỉnh thu hút được 156 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư 24.216 tỷ đồng. Trong đó có 27 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 654 triệu USD. Thu hút, vận động tài trợ từ nguồn vốn ODA, NGO là 27 triệu USD. Đến nay có 1.104 dự án đầu tư trong và ngoài nước, tổng số vốn đăng ký 86.848 tỷ đồng.

Về đầu tư FDI, đến cuối năm 2012 có 95 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 1.746 triệu USD, gồm 21 quốc gia và lãnh thổ như: Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Thụy Sĩ, Luxumbourge... Lĩnh vực đầu tư chủ yếu là du lịch - dịch vụ; công nghiệp - xây dựng; nuôi trồng - chế biến hải sản; nông - lâm nghiệp.

Đâu là những nguyên nhân quan trọng góp phần đưa Bình Thuận trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn đông đảo của các nhà đầu tư trong cũng như nước ngoài, thưa ông?

Đầu tiên phải kể đến việc Bình Thuận sở hữu vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế, cách TP.HCM 198 km, cách TP.Vũng Tàu 150 km, cách TP.Đà Lạt 175 km, cách TP.Nha Trang 250 km; có QL 1A, QL 55, QL 28, đường sắt xuyên Việt Bắc- Nam, vùng biển tiếp giáp đường hàng hải quốc tế.

Tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng với trữ lượng lớn, là một trong những tỉnh có trữ lượng lớn quặng titan, phân bố tập trung, hàm lượng zircon trong quặng cao; tiềm năng khai thác dầu khí ở vùng biển ngoài khơi và vùng thềm lục địa của tỉnh còn khá lớn, các mỏ có trữ lượng lớn như Sư tử đen, Sư tử trắng, Sư tử nâu, Sư tử vàng, Rubi… Ngoài ra với bờ biển dài 192 km, Bình Thuận có nhiều bãi tắm đẹp, đồi cát trắng hoang sơ và thơ mộng, khí hậu trong lành; nhiều khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp hấp dẫn thuận lợi cho phát triển ngành du lịch.

Đặc biệt Bình Thuận có ngư trường rộng 52.000 km2, là một trong 3 ngư trường lớn nhất Việt Nam giàu nguồn lợi về các loại hải sản có giá trị kinh tế cao; trữ lượng hải sản khoảng 220-240 ngàn tấn. Diện tích đất có khả năng phát triển nuôi tôm bán thâm canh khoảng 1.000 ha.

Song song với tài nguyên đa dạng, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh ngày càng được đầu tư nâng cấp. Bình Thuận đang kêu gọi đầu tư để khôi phục lại một sân bay cũ và xây dựng một sân bay mới tại xã Thiện Nghiệp, TP.Phan Thiết. Nguồn cung cấp điện được bảo đảm từ lưới điện quốc gia; có nhiều dự án thủy điện, phong điện đã được đưa vào vận hành. Nhà máy nước Phan Thiết có công suất 25.000 m³/ngày - đêm, hiện đang nâng cấp, mở rộng, đảm bảo đáp ứng đủ các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Hệ thống thông tin liên lạc đã được nâng cấp, mở rộng và hiện đại hoá. Hệ thống ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm của các tổ chức trong và ngoài nước hoạt động có hiệu quả tại Bình Thuận; đáp ứng nhu cầu các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, thương mại, xuất nhập khẩu… Hệ thống các trường chuyên nghiệp, dạy nghề, phát triển đều khắp cả trong, ngoài công lập và được sắp xếp hợp lý.

Đến nay, tỉnh Bình Thuận có 8 KCN được Chính phủ đưa vào quy hoạch, trong đó KCN Phan Thiết (giai đoạn 1) đã thu hút đầu tư lấp đầy diện tích đất cho thuê; các KCN Phan Thiết (giai đoạn 2); KCN Hàm Kiệm I, Hàm Kiệm II đã đầu tư xây dựng hạ tầng; KCN Tân Đức và KCN Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ 2, KCN Tuy Phong đang triển khai đầu tư.

Ngoài ra tỉnh đã huy động tốt nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, từng bước nâng cao chất lượng hạ tầng; chất lượng giao thông đường bộ nội tỉnh, chất lượng dịch vụ thông tin viễn thông ngày càng được nâng lên; mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo, hướng nghiệp và dạy nghề ngày càng được mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ sự phát triển của doanh nghiệp. Hàng năm, tỉnh ưu tiên bố trí vốn ngân sách thỏa đáng để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng để phát triển sản xuất kinh doanh như cảng cá, cảng vận tải, đường giao thông, hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc tại các khu qui hoạch.

Điều đặc biệt quan trọng, môi trường đầu tư của tỉnh ngày càng cải thiện theo hướng công khai, minh bạch, doanh nghiệp dễ dàng và thuận lợi tiếp cận các thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Tỉnh rất coi trọng vai trò, vị trí của doanh nhân, doanh nghiệp; chỉ đạo tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc trong hoạt động kinh doanh, cải thiện tốt môi trường đầu tư, tích cực đồng hành cùng doanh nghiệp – nhà đầu tư trong quá trình phát triển.

Sắp tới, để tạo môi trường thu hút đầu tư thuận lợi, thông thoáng, tỉnh tiếp tục điều chỉnh bổ sung nào trong chính sách ưu đãi dành cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thưa ông?

Để tạo môi trường thu hút đầu tư thuận lợi và thông thoáng, tỉnh tập trung rà soát các quy định theo chủ trương cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ để đảm bảo sự thống nhất, phù hợp với thực tế, hạn chế tối đa các khó khăn đối với nhà đầu tư, đảm bảo không trái quy định của pháp luật. Nâng cao công tác quản lý nhà nước, tăng cường phối hợp giữa các Sở, ban, ngành của tỉnh và với các Bộ, ngành TW.

Tỉnh cũng chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương rà soát các quy hoạch phát triển KT - XH, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng để điều chỉnh, bổ sung hoặc trình cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung kịp thời, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và làm cơ sở cho việc xây dựng danh mục kêu gọi đầu tư. Giải quyết việc chồng lấn giữa các quy hoạch và các ách tắc trong chính sách đền bù giải tỏa; tập trung tháo gỡ, giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá trình đầu tư của các dự án.

Ngoài ra tỉnh sẽ nghiên cứu vận dụng triệt để các chính sách ưu đãi của TW để vận dụng cho địa phương theo hướng áp dụng khung ưu đãi phù hợp cho từng ngành, lĩnh vực, địa bàn đầu tư.