Giảm lãi suất – Bài toán khó

09:55:21 | 28/5/2010

Gần như ngay sau chỉ đạo của Chính phủ của NHNN, cắt giảm lãi suất huy động VND xuống 10% và lãi suất cho vay xuống 12%/năm, các mức lãi suất lại âm thầm được đẩy lên vì sự chi phối của các diễn biến mới trên thị trường tiền tệ.

Thực tế, các mức lãi suất đã có đợt thoái lui vào giữa tháng tư, khi lãi suất huy động từ 11,99%/năm về quanh 11,5%/năm. Lãi suất huy động VND đang có dấu hiệu tăng trở lại. Lãi suất còn được âm thầm đẩy lên ở một số ngân hàng thương mại có chi nhánh áp dụng các hình thức khuyến mại như tặng tiền mặt, cộng thưởng lãi suất, tiết kiệm dự thưởng làm cho lãi suất huy động thực tế cao hơn so với mức niêm yết.

Hiện tại, mức lãi suất huy động tại các NHNN từ 11,6 – 11,9%/năm, nếu tính thêm các chương trình cộng thưởng lãi suất, mức cao nhất theo biểu huy động công khai là 12,04%/năm. Trong một số trường hợp, với số tiền gửi lớn, khách hàng còn có thể được hưởng mức lãi suất đến 13%/năm.

Tránh công khai các mức lãi suất huy động tăng cao, các NH đều công bố lãi suất không nhiều biến động, nhưng khách hàng có thể thương lượng các khoản lãi suất tiền gửi bằng cách gọi điện hoặc đến trực tiếp các điểm giao dịch. Tại NHTMCP Kiên Long, khách hàng chỉ thấy mức lãi suất cao nhất của kỳ hạn một tháng cho đến 12 tháng đều là 11,6% một năm. Tuy nhiên, mức lãi suất thực mà khách hàng được nhận là 12,5%. Lãi suất tăng thêm 0,9% là khoản thưởng mà ngân hàng dành cho khách khi đến gửi tiền. Tại một NHCP khác, lãi suất công bố trên website biến động từ 11,3% đến 11,5%; nhưng nhân viên NH cho biết, tính thêm lãi suất thưởng thì lên tới 13%. Một số NH áp dụng ngay các mức thương từ 1% đến 1,5% khi khách hàng gửi tiền, dẫn tới lãi thực là trên 12,99% /năm, tính lãi cuối kỳ.

Không chỉ cộng thêm lãi suất thưởng, các NH còn áp dụng các mức thưởng tiền mặt. Ngân hàng Quốc tế (VIB) thực hiện tặng tiền trực tiếp cho khách hàng với mức tối đa một triệu đồng. Như vậy, nếu gửi 100 triệu đồng và nhận 1 triệu tiền thưởng, khách hàng của VIB gần như có thêm 1% lãi suất.

Dư luận vẫn nghĩ rằng chỉ có các NHTM cổ phần quy mô nhỏ thường xuyên thiếu vốn, nhưng qua thông tin một số NHTM nhà nước đã phải vay các NHCP dưới dạng nhận tiền gửi lớn, lãi suất cao của các công ty con của NHCP, thì người ta mới biết là hiện chính các NHTM nhà nước cũng thiếu vốn.

Trong tình trạng khát vốn, lãi suất vẫn tiếp tục được đẩy lên, mặc dù có chỉ đạo kéo lãi suất xuống của NHNN. Thực ra, tăng lãi suất cũng là chuyện cực chẳng đã đối với các NHTM, vì đi ngược chủ trương của chính phủ và làm khó hoạt động kinh doanh, nhưng không tăng thì khó giữ được nguồn vốn bởi khách hàng đặc biệt là các doanh nghiệp đòi lãi suất cao. Chính vì thế, thay vì tuyên truyền rầm rộ như các đợt tăng lãi suất hút vốn trước đây, tăng lãi suất lần này nửa công khai, nửa bí mật.

Thực tế đã khẳng định, lãi suất cho vay đầu ra vẫn khó giảm thêm nếu chỉ dựa mệnh lệnh hành chính. Theo các mức trần lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh mà các ngân hàng công bố vừa qua, tỷ lệ lãi biên mà họ thu được hiện ở khoảng 2% - 4%. Cho vay tiêu dùng, chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra cao hơn, nhưng tỷ trọng trong tổng dư nợ chỉ chiếm phần nhỏ, thường quanh mức 10% tùy theo chính sách cho vay của mỗi thành viên ở các thời kỳ. Một tính toán cho thấy, để đảm bảo yêu cầu lợi nhuận, ngân hàng cần giữ tỷ lệ này ở khoảng 3%. Khi lãi suất huy động ở mức cao, các NH không thể cắt giảm lãi suất cho vay, nếu không có sự tác động và hỗ trợ rõ ràng và đủ mạnh từ chính sách, họ chủ yếu phải chia sẻ bằng cách hạ tỷ lệ lãi biên và tiếp tục tiết kiệm, cắt giảm chi phí hoạt động.

Một nguồn khác, các NH có thể vay trên thị trường liên NH có lãi suất thấp hơn, nhưng NHNN khuyến cáo các nhà băng không được huy động quá 20% vốn từ thị trường liên NH so với tổng nguồn vốn huy động từ dân cư và doanh nghiệp.

Ông Phạm Quốc Thanh, Phó tổng giám đốc Ngân hàng An Bình (ABBank) phân tích, cạnh tranh lãi suất huy động ngày càng gay gắt hơn khiến lãi suất huy động chưa thể giảm ngay. Đồng thời, với các khoản vốn huy động chi phí cao ở các tháng trước chưa đến kỳ đáo hạn, các ngân hàng đều cần có thời gian để cân đối lại. Trả lời báo chí, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia Lê Đức Thúy cũng có nhận định về vấn đề này: lãi suất là một định lượng khách quan, không phải muốn hạ là hạ ngay được. Chính phủ muốn lãi suất thấp nhưng không lạm phát. Đây là bài toán khó. Áp lực ấy, dự đoán có thể giảm nhưng tâm lý của người dân vẫn còn chưa tin tưởng vào đồng tiền và nếu có những kênh đầu tư khác sinh lợi tốt hơn, họ sẽ không gửi tiền vào NH. Một khi NH thiếu vốn đương nhiên lại nâng lãi suất lên để huy động, nâng lãi suất huy động thì phải tăng lãi suất cho vay để bảo đảm lợi nhuận tối thiểu.

Theo NHNN, lãi suất cho vay của NHTM ngắn hạn phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh hiện ở mức 12%/năm; lãi suất cho vay trung, dài hạn theo cơ chế thỏa thuận khoảng 14% - 15%/năm đối với nhóm ngân hàng quốc doanh, khoảng 15% - 17%/năm đối với nhóm cổ phần; cá biệt có một số ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ cho vay với lãi suất khá cao, khoảng 18% - 20%/năm.

Lộ trình giảm tiếp lãi suất tiền gửi và cho vay sẽ tùy thuộc vào diễn biến và tín hiệu của thị trường. Thực tế, để giảm được lãi suất cho vay từ 15%/năm xuống 13%/năm đòi hỏi sự nỗ lực lớn của các NH. Cân bằng cung cầu vốn vẫn là bài toán khó của hệ thống tiền tệ Việt Nam, khi hệ thống tín dụng gánh đến 80% vốn cho nền kinh tế. Những diễn biến mới trên thị trường đang cho thấy khả năng tiếp tục giảm lãi suất theo định hướng của Chính phủ trở nên khó khăn hơn, ngoại trừ có sự can thiệp mạnh của NHNN. Sự chờ đợi này chính là từ các chính sách như hạ các lãi suất liên quan đến việc cấp vốn, hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại, hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng cường bơm vốn và hỗ trợ ở các kỳ hạn dài hơn…

Bên lề cuộc họp Quốc Hội, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ông Vũ Viết Ngoạn cho rằng, công cụ quan trọng để NHNN tạo điều kiện cho lãi suất thị trường giảm xuống chính là phải nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua việc “bơm” thêm tiền cho nền kinh tế, sẽ cân bằng cung cầu tiền tệ, giảm lãi suất.

Tình hình lạm phát ổn định, để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng GDP của Việt Nam là 6,5% trong năm, mức tăng trưởng tín dụng thấp trong khi hạn mức tín dụng 25% cho năm 2010, điều đó khiến các chuyên gia tài chính nhận định chính sách tiền tề tiếp tục được nới lỏng và tăng cung tiền trên thị trường, tạo điều kiện cho các NHTM có vốn rẻ, giảm lãi suất cho vay để cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Kim Nhung