Xúc tiến đầu tư vào đặc khu kinh tế Mariel - CuBa

08:40:28 | 20/9/2013

Dự án “Đặc khu Phát triển Mariel” (ZEDM) có diện tích 465.4 km² và nằm gần phía tây La Habana. Với sự đầu tư hơn 600 triệu USD nhằm hiện đại hóa cảng nước sâu Mariel cùng cơ sở hạ tầng, sân bay, logistic, (dự kiến sẽ được khánh thành đầu năm 2014), CuBa mong muốn sẽ thu hút đầu tư và giao lưu thương mại mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các DNVN vào khu vực này. Đây là những thông tin được ông Rodrigo Malmierca Diaz, Bộ trưởng Ngoại Thương và Đầu tư nước ngoài Cuba công bố tại Hội thảo Xúc tiến đầu tư, giới thiệu đặc khu phát triển Mariel vừa được VCCI phối hợp với ĐSQ CuBa tại Việt Nam tổ chức vừa qua tại Hà Nội.

ZEDM tạo nhiều thuận lợi cho nhà đầu tư

ZEDM là khu vực có chế độ và chính sách đặc biệt, mục đích chính là thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững thông qua việc thu hút đầu tư nước ngoài, đổi mới công nghệ và tập trung công nghiệp, hướng tới tăng trưởng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu một cách có hiệu quả và tạo ra nguồn việc làm mới, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với nền kinh tế trong nước.

Đặc khu sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp và thúc đẩy các dự án công nghiệp, nông nghiệp, cơ khí kim loại, du lịch và tất cả loại hình hoạt động mà luật pháp Cuba cho phép, sử dụng công nghệ sạch và sản xuất hàng hóa và các dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên cơ sở kiến thức và đổi mới.

Cuba hi vọng ZEDM sẽ trở thành một khu phát triển công nghệ hàng đầu trong khu vực, hấp dẫn đối với việc thu hút vốn nước ngoài, trong đó tiến hành các hoạt động sản xuất và dịch vụ tiên tiến, đối với cả xuất khẩu cũng như thay thế nhập khẩu, góp phần vào sự phát triển quốc gia.

Khi đầu tư vào ZEDM, các nhà đầu tư nước ngoài được bảo vệ và đảm bảo an ninh, được bảo vệ trước những kiện tụng của các bên thứ ba, trên cơ sở phù hợp với luật pháp Cuba. Nhà nước CuBa đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài được tự do chuyển ra nước ngoài các cổ tức, lợi nhuận hoặc các thu nhập khác liên quan tới việc xuất khẩu của đầu tư dưới dạng đồng tiền có thể chuyển đổi tự do mà không phải trả thuế hoặc bất cứ loại phí nào liên quan tới việc chuyển nhượng nói trên.

Trao đổi thương mại, đầu tư chưa tương xứng

Theo ông Hoàng Văn Dũng, kể từ khi thiết lập ngoại giao vào năm 1960, trải qua hơn 50 hợp tác và ủng hộ lẫn nhau, Việt Nam và Cuba luôn luôn là những người anh em trung thành, là đối tác thuỷ chung. Trong thời kỳ kháng chiến, Cu-ba là nước đi đầu trong phong trào nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập, tự do, xây dựng đất nước của Việt Nam. Đến những năm hoà bình và phát triển, Cu-ba đã quan tâm thúc đẩy quan hệ mọi mặt với Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực kinh tế với các thế mạnh của Cu-ba như xây dựng, giao thông, công nghệ sinh học, nông nghiệp, giáo dục, y tế, thể dục - thể thao. Hai bên đã ký một loạt điều ước kinh tế-thương mại để hỗ trợ hoạt động giao thương giữa hai nước như Hiệp định về trao đổi thương mại và các hình thức hợp tác kinh tế khác (1996); Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa (1995); Hiệp định về hợp tác du lịch (1999), Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực kiểm dịch và bảo vệ thực vật ; Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế thu nhập (2002)…

Tuy vậy, theo ông Dũng, do những yếu tố khách quan, tình hình thương mại và đầu tư song phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai nước. Kim ngạch buôn bán hàng năm giữa Việt Nam và Cu-ba còn hạn chế. Xuất nhập khẩu từ chỗ đạt hơn 490 triệu USD vào năm 2008, thì năm 2012 vừa qua, kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước chỉ đạt con số hơn 175 triệu USD, trong đó chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Cu-ba, nhiều nhất là các mặt hàng: gạo, hoá chất, nhựa, than đá và dệt may. Kim ngạch xuất khẩu của Cuba sang Việt Nam chỉ đạt con số khiêm tốn, khoảng hơn 6 triệu USD. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Cuba cũng chỉ đạt 111,7 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu hầu như không đáng kể.

Về đầu tư trực tiếp, tính tới cuối năm 2012, Cu-ba có 1 dự án tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 6.6 triệu USD, đứng thứ 68 trong gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Ngược lại, bên cạnh một số công ty văn phòng đại diện tại Cuba, Việt Nam cũng mới chỉ có 02 dự án đầu tư về thăm dò dầu khí của Tổng công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí (PVEP) thuộc Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam tại Cu-ba.

“Việc đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa hai nước không chỉ là trách nhiệm của hai chính phủ mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp. Tôi tin rằng với tình hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam và Cu-ba, với sự ủng hộ và quan tâm của chính phủ và nhân dân hai nước, quan hệ hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Cu-ba sẽ có bước phát triển bền vững mạnh mẽ trong thời gian tới”, ông Dũng nói.

Theo ông Dũng, xét về cơ cấu ngành hàng, hai nước có thể bố sung tốt cho nhau. Cu-ba có nhu cầu lớn về các mặt hàng dệt may, giày dép, hàng điện tử của Việt nam. Ngược lại, Cu-ba có nhiều thế mạnh về dược phẩm, đào tạo, y tế, xây dựng có khả năng hợp tác tốt với Việt Nam. Đặc biệt, sau Nghị quyết Đại hội 6 Đảng Cộng sản Cuba đã thực hiện một loạt biện pháp nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Cuba. Việc thành lập đặc khu kinh tế phát triển Mariel- khu chế xuất thương mại tư do đầu tiên của Cuba là một trong những ví dụ điển hình nhất trong chính sách đổi mới này. Đây sẽ là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam, vốn đã là bạn hàng thương mại truyền thống của Cuba đẩy mạnh đầu tư vào quốc đảo Carribe và từ đó xâm nhập sau rộng hơn vào thị trường các nước Mỹ Latinh.

“VCCI sẵn sàng sát cánh với Đại sứ quán Cuba, Phòng Thương mại Cuba vì sự phát triển của các quan hệ hợp tác giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước”, ông Dũng khẳng định.

Quỳnh Anh