05:50:09 | 18/10/2013
Trong bối cảnh tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn, Đắk Lắk vẫn giữ mức tăng trưởng khá, bình quân trong 3 năm qua đạt gần 8,5%, tổng thu ngân sách hơn 10.300 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người hàng năm hơn 27 triệu đồng. Những kết quả đó, một phần đã phản ánh được hiệu quả từ các chính sách của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội cũng như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011 - 2015) ở địa phương. Phóng viên tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Trọng Hải, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk xung quanh những thành tựu đã đạt được. Kim Bảo thực hiện.
Phát huy lợi thế ở vị trí trung tâm khu vực Tây Nguyên, năm 2012 cũng như những tháng đầu năm 2013, kinh tế- xã hội của tỉnh Đắk Lắk đã gặt hái được những thành quả ấn tượng nào, thưa ông?
Có thể nói, từ những lợi thế về điều kiện tự nhiên, sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết TW 7 và gần 2 năm thực hiện Kết luận số 12-KL/TW đã góp phần thúc đẩy kinh tế của Đắk Lắk phát triển tích cực: tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2008 - 2013 đạt 11%/năm; số hộ nông dân nghèo trên địa bàn giảm đáng kể, bình quân giai đoạn 2008-2010 giảm 4%/năm, giai đoạn 2011 - 2013 giảm 3%/năm; đến nay toàn tỉnh đã có 1 xã đạt 15 tiêu chí, 2 xã đạt 13 tiêu chí, 8 xã đạt từ 10 – 12 tiêu chí, 73 xã đạt từ 5 - 9 tiêu chí, 60 xã đạt từ 2- 4 tiêu chí và 8 xã đạt 1 tiêu chí; các chính sách về hỗ trợ nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt, vốn sản xuất, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí… được triển khai kịp thời, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Dù vậy, kinh tế nông nghiệp Đắk Lắk vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có, thiếu tính ổn định và bền vững, đặc biệt là năng suất, giá trị, chất lượng các mặt hàng nông lâm sản còn thấp, phần lớn ở dạng thô, sơ chế; đời sống một bộ phận nông dân còn khó khăn; nguy cơ tái nghèo cao…
Năm 2013, Đắk Lắk thực hiện 13 chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) gồm: Giảm nghèo bền vững; Việc làm và dạy nghề; Giáo dục và Đào tạo; Dân số kế hoạch hóa gia đình; Y tế; Vệ sinh an toàn thực phẩm; Phòng, chống HIV/AIDS; Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn; Văn hóa; Phòng, chống tội phạm; Phòng, chống ma túy; Xây dựng nông thôn mới; Đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Tổng kinh phí thực hiện các Chương trình MTQG là 268, 439 tỷ đồng (vốn đầu tư là hơn 96,8 tỷ đồng, vốn sự nghiệp hơn 171,4 tỷ đồng).
Trong đó, vốn Chương trình MTQG Trung ương giao trong năm 2013 hơn 266,9 tỷ đồng, vốn Chương trình MTQG chuyển nhiệm vụ chi năm 2012 sang hơn 1,4 tỷ đồng. Đến hết tháng 6/2013, khối lượng thực hiện các Chương trình đạt hơn 141 tỷ đồng, đạt 52,53% kế hoạch, giải ngân được hơn 78,1 tỷ đồng, đạt 29% kế hoạch. Sau 6 tháng thực hiện, các Chương trình MTQG trên địa bàn tỉnh đã tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội của địa phương như: đời sống nhân dân được nâng lên; các tiêu chí về hưởng thụ văn hóa, chăm sóc y tế đều có bước phát triển tốt; giải quyết việc làm cho khoảng 12.830 lao động; các Chương trình MTQG nói chung và Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới nói riêng đã cải thiện cơ bản đời sống nhân dân, bộ mặt nông thôn theo hướng tích cực, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
.jpg)
Cũng trong thời gian qua, các chính sách giảm nghèo và các vấn đề an sinh xã hội đã được cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh quan tâm sâu sát và phát huy hiệu quả tích cực, từ đó tỷ lệ hộ nghèo năm 2012 đã giảm từ 69.261 hộ xuống còn 59.271 hộ (2,27%); tổng số hộ cận nghèo giảm từ 28.760 hộ xuống còn 28.241hộ (giảm 519 hộ). Các vấn đề cơ bản, bức xúc nhất đối với hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số như giáo dục, y tế, nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt… đã được giải quyết kịp thời, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của nhân dân. Các chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất như đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, cho vay ưu đãi tiếp tục được phát huy, đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất, giúp người nghèo có việc làm, tạo thu nhập ổn định để thoát nghèo bền vững.
Xác định cải cách hành chính là động lực để phát triển, chính vì vậy những năm qua, chính quyền tỉnh Đắk Lắk đã tập trung chỉ đạo, điều hành, xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Xin ông chia sẻ thêm về thành công này? Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính thông qua những chương trình, hành động cụ thể nào?
Trong 6 tháng đầu năm 2013, UBND tỉnh đã kiện toàn 16 Ban Chỉ đạo, hội đồng; thành lập mới 06 Ban Chỉ đạo, hội đồng và bổ sung chức năng nhiệm vụ cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chi cục Thú y tỉnh; Chi cục quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông, nâng cao hiệu quả giải quyết công việc cho người dân và doanh nghiệp. Đến nay đã có 24 cơ quan cấp tỉnh, 15/15 huyện, thị xã, thành phố và 184/184 xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện việc tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa liên thông; 100% cơ quan, đơn vị tiếp tục duy trì, sử dụng hệ thống thư điện tử của tỉnh, mạng nội bộ (LAN) để trao đổi công việc; 40 % Sở, ban ngành, 100% huyện, thị xã, thành phố sử dụng hệ thống điều hành trực tuyến (OMS); 15/15 huyện, thị xã, thành phố và 16/19 Sở, ban ngành có Trang thông tin điện tử; tình hình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) trong cơ quan hành chính Nhà nước đã có chuyển biến tích cực về số lượng và chất lượng, cụ thể kết quả xếp hạng ứng dụng CNTT trong cơ quan Nhà nước tỉnh năm 2012 tăng 9 bậc so với năm 2011, riêng xếp hạng ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ cơ quan Nhà nước tăng 21 bậc.
UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 323/QĐ-UBND ngày 13/02/2012 về Chương trình cải cách hành chính tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011-2020, Quyết định 1479/QĐ-UBND ngày 10/7/2012 về Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2012-2015. Theo đó, hàng năm, Đắk Lắk xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, kinh phí và trách nhiệm thực hiện chương trình của từng sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố nhằm triển khai đồng bộ 6 nội dung chương trình cải cách hành chính công về: Cải cách thể thế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa hành chính. Đắk Lắk đặc biệt coi trọng công tác niêm yết công khai, rõ ràng, cụ thể quy trình thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan, đơn vị.
Cùng với đó, việc triển khai mở rộng hệ thống quản lý hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 cũng được Đắk Lắk đặc biệt chú trọng. Đến nay toàn tỉnh có 23 đơn vị đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008. Nhờ đó, Đắk Lắk đã chuẩn hoá các quy trình hành chính, cải tiến quy trình giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết, phân định rõ trách nhiệm của cán bộ chuyên môn xử lý hồ sơ và trách nhiệm của lãnh đạo cơ quan đơn vị, đáp ứng yêu cầu giải quyết hồ sơ hành chính đúng pháp luật, tiết kiệm chi phí, thời gian và giúp cho việc kiểm soát hồ sơ tốt hơn để tạo điều kiện tối đa cho các nhà đầu tư.
Với “Thủ phủ cà phê” là TP. Buôn Ma Thuột có sự góp mặt khá đầy đủ của nhiều nhà phân phối, thương hiệu mạnh, Đắk Lắk cần tận dụng thế mạnh này ra sao để trở thành trung tâm phân phối mặt hàng này cho các tỉnh lân cận? Riêng vấn đề đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cà phê Buôn Ma Thuột được tỉnh quan tâm triển khai ra sao?
Cây cà phê có vị trí rất quan trọng trong cơ cấu nông lâm nghiệp của tỉnh Đắk Lắk, là cây trồng chủ lực được trồng ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố với diện tích gần 40% tổng diện tích cà phê toàn quốc. Đến năm 2012, diện tích cà phê toàn tỉnh hơn 202.000 ha, trong đó diện tích cà phê cho thu hoạch hơn 191.000 ha, sản lượng niên vụ 2012-2013 đạt hơn 390.000 tấn.
Hàng năm, ngành cà phê toàn tỉnh đã đóng góp trên 40% GDP của tỉnh và đã giải quyết việc làm ổn định cho khoảng 350.000 lao động trực tiếp và khoảng 120.000 lao động gián tiếp. Nhãn hiệu “Buon Ma Thuot coffee” được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cấp đăng bạ dưới hình thức tên gọi xuất xứ hàng hóa (nay là Chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột) vào tháng 10-2005 với vùng địa danh hơn 100.000 ha, nằm trên địa bàn 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Dak Lak. Nhưng đến năm 2010, đã bị một doanh nghiệp Trung Quốc đăng ký bảo hộ độc quyền tại nước này. Vì thế, UBND tỉnh đã giao cho Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột đại diện đứng tên khiếu kiện đòi lại thương hiệu, đồng thời đăng ký bảo hộ nhãn hiệu “Buon Ma Thuot coffee” ra các nước dưới dạng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và các hình thức bảo hộ khác theo luật của các quốc gia.
Sau 1 năm nộp đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu “Buon Ma Thuot coffee” ra 17 nước, đến nay mới chỉ có 5 nước chấp nhận, 7 nước đang xem xét đơn và 5 nước tạm thời từ chối. Vì thế, việc quảng bá thương hiệu Cà phê Buôn Ma Thuột ra nước ngoài đang gặp nhiều trở ngại. Theo tư vấn của Dự án Bảo hộ chỉ dẫn địa lý EU - ASIAN , UBND tỉnh cho phép dừng việc theo đuổi đăng ký nhãn hiệu “Buon Ma Thuot coffee” tại Mỹ, Canada và Hàn Quốc, chuyển sang bảo hộ một nhãn hiệu khác của cà phê Dak Lak. Cùng với đó, đăng ký chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột vào EU.
Đắk Lắk nằm trong tam giác phát triển biên giới 3 nước Campuchia-Lào-Việt Nam, đây là khu vực có vị trí chiến lược đối với cả 3 nước về chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Ông có thể nói rõ hơn về khu vực tam giác phát triển này cũng như vị thế của tỉnh nhà đối với khu vực?
Đắk Lắk là tỉnh trong Tam giác phát triển (có 73 km đường biên giới với Campuchia), và đã xác định cần tận dụng các điều kiện thuận lợi và nắm bắt cơ hội để tăng cường quan hệ hợp tác với các tỉnh khác trong khu vực này. Khu vực tam giác phát triển 3 nước thành lập năm 2002, hiện tại gồm 13 tỉnh của cả ba nước. Tăng trưởng kinh tế khu vực này đạt 10%/năm (2011-2012), GDP bình quân đầu người của khu vực là 980USD. Đây là khu vực chủ yếu phát triển mạnh về nông-lâm-thủy sản.
Đặc biệt, cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ cho phát triển kinh tế ở khu vực này cực kỳ yếu kém.Vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) phối hợp với Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam và lãnh đạo 5 tỉnh (Gia Lai; Kon Tum; Đăk Lăk; Đăk Nông; Bình Phước) của Việt Nam thuộc khu vực tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam tiến hành cuộc họp nhằm chuẩn bị cho hội nghị tư vấn tài trợ cho khu vực này. Chương trình quốc gia-ADB Việt Nam đề xuất đến một số ngành, lĩnh vực hợp tác để nâng tầm phát triển khu vực 3 nước.
Trong đó, chú trọng đến lĩnh vực phát triển giao thông và xem đây là “xương sống” của chương trình tam giác phát triển. Ngoài ra, các lĩnh vực khác như ngành điện, phát triển đô thị, công-nông nghiệp, thương mại dịch vụ, giáo dục và đào tạo đắc biệt là đào tạo nghề cũng được ADB ưu tiên đề xuất.