Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính ngành hải quan

11:43:31 | 25/11/2013

Gần một tháng trôi qua từ khi Thông tư 128/2013/TT-BTC (Thông tư 128) ngày 10/9/2013 của Bộ Tài chính có hiệu lực (01/11/2013), nhiều doanh nghiệp đã thuận lợi hơn trong việc tiến hàng kê khai các thủ tục hải quan nhờ có Thông tư này.

Cụ thể hơn, đơn giản hơn

Thông tư 128 có nhiều điểm thay đổi về thủ tục hải quan so với Thông tư 194 theo hướng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp (DN).

Cụ thể, khoản 8, 9 Điều 11 Thông tư số 128 tương ứng với Điều 10 Thông tư số 194/2010/TT-BTC (Thông tư số 194) có thay đổi cơ bản về việc khai hải quan đối với hàng hóa XNK.

Về hồ sơ hải quan, Thông tư số 128 đơn giản hóa rất nhiều so với quy định cũ. Cụ thể, trước kia DN phải nộp bản chính cho một số giấy tờ như: hóa đơn, bảng kê chi tiết… gây nhiều phức tạp. Nhưng nay, DN chỉ phải nộp bản photo đối với hóa đơn, bảng kê chi tiết… và chịu trách nhiệm với khai báo của mình.

Địa điểm đăng ký tờ khai hải quan (Điều 13) là một điểm mới chưa được quy định tại Thông tư số 194. Theo đó, địa điểm đăng ký tờ khai hải quan được chia làm 3 trường hợp cụ thể.

Thứ nhất, đối với hàng hóa không được chuyển cửa khẩu thì phải đăng ký tờ khai hải quan tại chi cục hải quan quản lý địa điểm lưu giữ hàng hóa tại cửa khẩu, cảng đích.

Thứ hai, đối với hàng hóa được chuyển cửa khẩu thì được đăng ký tờ khai hải quan tại chi cục hải quan quản lý địa điểm lưu giữ hàng hóa tại cửa khẩu hoặc chi cục hải quan nơi hàng hóa được chuyển cửa khẩu đến.

Thứ ba, đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo một số loại hình cụ thể thì địa điểm đăng ký tờ khai thực hiện theo từng loại hình tương ứng được hướng dẫn tại thông tư này.

Quy định này áp dụng đối với cả thủ tục hải quan điện tử (quy định tại Thông tư 196/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính).

Thông tư số 128 (Điều 13) cũng bổ sung điều kiện và thời điểm đăng ký tờ khai hải quan. Việc khai bổ sung tờ khai hải quan cũng được bổ sung thêm một trường hợp (tại Điều 14). Theo đó, DN được khai bổ sung nếu “không ảnh hưởng đến việc áp dụng chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đối với lô hàng khai bổ sung”. Điều này đã tháo gỡ khó khăn cho DN, trong trường hợp muốn khai bổ sung về số lượng hay các chỉ tiêu khác không làm ảnh hưởng đến tiền thuế phải nộp.

Một điểm mới khá quan trọng của Thông tư 128 là linh hoạt, tạo điều kiện cho DN trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Ngoài quy định về đồng tiền nộp thuế, Thông tư 128 (Điều 19) “cởi mở” khi cho phép người nộp thuế tạm nộp thuế bằng ngoại tệ hoặc tiền Việt Nam khi chưa có giá chính thức.

Sau khi có giá chính thức, người nộp thuế nhận được tiền ngoại tệ thanh toán từ khách hàng nước ngoài, thì nộp tiền thuế chênh lệch (nếu có) bằng ngoại tệ.

Trường hợp phải nộp thuế bằng ngoại tệ và được tạm nộp bằng đồng tiền Việt Nam, tỷ giá quy đổi ngoại tệ là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm tính thuế. Tỷ giá này cũng được áp dụng thống nhất khi hạch toán ngoại tệ giữa Kho bạc Nhà nước và cơ quan Hải quan.

Ngoài ra, Thông tư số 128/2013/TT-BTC cũng quy định tỷ giá tính thuế trong trường hợp có sự khác biệt giữa Báo Nhân dân và trang điện tử hàng ngày của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Điều 98). Trong trường hợp này, tỷ giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm tính thuế được đưa trên trang điện tử của Ngân hàng Nhà nước.

Xác định trước mã số hàng hóa

Đây là một điểm mới được cả phía DN và cơ quan hải quan đặc biệt quan tâm, phù hợp với thông lệ quốc tế là việc cơ quan hải quan có nhiệm vụ xác định trước mã số hàng hóa xuất nhập khẩu, khi DN yêu cầu.

Theo Thông tư 128 (Điều 7) quy định, các tổ chức, cá nhân có thể đề nghị xác định trước mã số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thay vì chỉ áp dụng với một số trường hợp theo quy định tại Thông tư số 149.

Điều 7 quy định cụ thể về hồ sơ, thủ tục xác định trước mã số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được cơ quan hải quan tiến hành trước khi làm thủ tục hải quan. Văn bản thông báo kết quả xác định trước mã số được Tổng cục Hải quan ban hành có hiệu lực tối đa là 03 năm là cơ sở để khai báo mã số trên tờ khai hải quan và được nộp cùng với hồ sơ hải quan (01 bản Poto) khi làm thủ tục hải quan của DN.

Quy định này sẽ giúp DN chủ động việc lựa chọn mặt hàng, chủng loại hàng hóa, tính toán trước hiệu quả kinh doanh trước khi thực hiện hợp đồng giao dịch xuất nhập khẩu, tránh được sự bất đồng với cơ quan hải quan về xác định mã số tính thuế, ảnh hưởng đến việc thông quan hàng hóa của DN. như đã và đang từng xảy ra.

Hương Giang – Trịnh Hải