Cần nhiều nỗ lực để cải thiện môi trường kinh doanh

11:54:21 | 20/12/2013

Năm 2013, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận những nỗ lực lớn lao của Chính phủ trong việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như giải cứu, giãn giảm thuế… Dù có những tác động nhất định, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp cho rằng họ chưa thực sự được hưởng lợi, nhiều chính sách được ban hành chưa đồng bộ, hiệu quả thực thi không cao. Để cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian tới, theo ý kiến của đại diện các tổ chức, hiệp hội nước ngoài, VN còn rất nhiều việc phải làm. Quỳnh Chi thực hiện.

Thiếu hụt nhân lực quản lý, nguồn cung nguyên vật liệu

Ông Sato Motonobu, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam

Đối với Việt Nam, việc thu hút các doanh nghiệp Nhật Bản chính là cơ hội tuyệt vời để học hỏi yêu cầu cần có đối với tiêu chuẩn chất lượng của Nhật Bản. Giao dịch với các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam hiểu sâu về yêu cầu đối với chất lượng quốc tế, nắm bắt được các kỹ thuật, và cuối cùng sẽ giúp tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam. Nếu môi trường đầu tốt sẽ nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam hơn nữa.

Về môi trường đầu tư của Việt Nam, đối với các doanh nghiệp chế biến xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động thì tương đối tốt, nhưng đối với các doanh nghiệp phục vụ nhu cầu nội địa như bán lẻ-dịch vụ thì chưa tốt do còn nhiều vấn đề vướng mắc.

Các doanh nghiệp Nhật Bản chưa hài lòng với môi trường đầu tư ở một số điểm như: việc thiếu hụt nhân lực quản lý, tính bất ổn của việc cung cấp điện, việc thiếu hoàn thiện cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật cứng nhắc (bao gồm hệ thống thuế), việc thiếu nguồn cung cấp nguyên vật liệu (tỷ lệ mua nguyên vật liệu tại nước sở tại thấp), việc chưa hình thành ngành công nghiệp phụ trợ cũng như việc thiếu minh bạch trong hệ thống xã hội. Hay việc dù có lao động giỏi, nhưng trong khi năng suất lao động không tăng mà chi phí tiền lương cứ tiếp tục tăng lên, thì sẽ dẫn đến rủi ro dịch chuyển đầu tư sang nước khác.

Thời điểm để tiến hành cải cách

Ông Steven Winkelman, chủ tịch Amcham

Thách thức đối với nền kinh tế hiện nay không chỉ tồn tại ở Việt Nam. Việt Nam không phải là quốc gia đầu tiên gặp phải những vấn đề về ngân hàng và nợ xấu. Việt Nam không phải là quốc gia đầu tiên bị vấn nạn tham nhũng và những thiếu sót trong quản lý gây xói mòn nền tảng kinh tế, cũng không phải quốc gia đầu tiên phải đối mặt với những quyết định khó khăn trong việc giải thể các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả.

Đây chính là thời điểm cần tiến hành những cải cách cần thiết để tạo ra một môi trường cạnh tranh hơn, từ đó các quyết định được đưa ra nhanh hơn, các thủ tục trở nên đơn giản hơn, các quy định được thực thi một cách công bằng và các công ty cạnh tranh dựa trên giá trị thực chất của họ - bao gồm khả năng tiếp cận nguồn vốn, đất đai và nắm bắt cơ hội.

Độ tin cậy đang bị sụt giảm

Ông Preben Hjortlund, Chủ tịch Eurocham

Trong năm 2013, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với một số thách thức do mức tăng trưởng chậm trong những năm gần đây. Tuy nhiên, chúng tôi hoan nghênh những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc thực thi các chính sách nhằm tái lập sự ổn định kinh tế vĩ mô. Nhờ có các chính sách này, lạm phát được giữ ở mức vừa phải, tỷ giá hối đoái ổn định, dự trữ ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước đã tăng hơn gấp đôi trong hai năm vừa qua và rủi ro quốc gia (được đo bằng chênh lệch lãi suất trái phiếu Chính phủ và hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng) đang ở mức thấp nhất kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trong hai năm tới, dự đoán sẽ vẫn duy trì thặng dư tài khoản vãng lai ở mức khá cao và tiếp tục thu hút mạnh dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Tuy nhiên, theo khảo sát Chỉ số Môi trường Kinh doanh (BCI) mới nhất của EuroCham, quan điểm của các doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam gần như không thay đổi trong suốt cả năm, duy trì ở mức trung bình. Độ tin cậy của các doanh nghiệp châu Âu tham gia khảo sát đối với triển vọng kinh doanh tại VN bị sụt giảm, đồng thời các doanh nghiệp cũng tỏ ra quan ngại về ảnh hưởng từ việc thay đổi các chính sách, luật pháp trong tương lai. EuroCham mong muốn tìm hiểu xem thay đổi nào sẽ góp phần tăng cường hơn nữa cam kết sẽ tiếp tục hoạt động tại Việt Nam của các doanh nghiệp. Kết quả cho thấy việc thay đổi luật pháp, chính sách trong suốt năm 2013 đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, và khuynh hướng này dự định sẽ tiếp tục tăng vào năm 2014.

Cải cách DNNN là đòi hỏi thiết yếu để đảm bảo đảm nền kinh tế đi đúng hướng

Ông Seck Yee Chung, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Singapore

DNNN là một trong những nền tảng chủ lực của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, thể nói nhiều DNNN đang hoạt động thiếu hiệu quả, phát sinh lỗ. Được biết, nợ trong nước của DNNN đã lên tới khoảng 145.000 tỉ VND, trong đó 20-30% là nợ không thể hoàn trả. Khi DNNN trở thành gánh nặng cho nền kinh tế thì cải cách DNNN sẽ là đòi hỏi thiết yếu để bảo đảm nền kinh tế Việt Nam đi đúng hướng.

Nhìn chung, các DNNN ở Việt Nam được thành lập với những mục tiêu thương mại hay phi thương mại. Những DNNN phi thương mại được thành lập để thực hiện những nhiệm vụ xã hội, bảo đảm quản lý nhà nước về tài nguyên thiên nhiên và cơ sở hạ tầng cơ bản. DNNN thương mại có mục đích tìm kiếm lợi nhuận, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tương tự như hầu hết các doanh nghiệp có liên quan đến nhà nước ở Singapo. Những mục tiêu này cần được làm rõ. Khi còn có sự thiếu rõ ràng về mục tiêu hoạt động của DNNN thì sẽ có những vấn đề nảy sinh.

DNNN phi thương mại cần tập trung vào những nhiệm vụ xã hội chính tránh đầu vào những lĩnh vực kinh doanh tự phát, gây lãng phí nguồn vốn của nhà nước. Một trong những lý do khiến một số DNNN phi thương mại hoạt động kém hiệu quả là vì những doanh nghiệp này phát sinh lỗ từ những hoạt động đầu tư ngoài nhiệm vụ chính. Để thực hiện, khuyến khích tăng trưởng kinh tế lành mạnh, các DNNN thương mại phải tuân thủ các quy luật thị trường và phải chịu trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn vốn của nhà nước. Tuy nhiên, nếu các DNNN thương mại được hưởng các ưu đãi, đối xử đặc biệt của nhà nước thì những doanh nghiệp này sẽ có khả năng kiểm soát, chi phối thị trường, từ đó ảnh hưởng đến cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân.

Cần tăng cường cơ chế và quy định để phát triển các dự án điện gió

Ông Sigmund Strømme, Chủ tịch Phòng Thương mại Bắc Âu tại thành phố Hồ Chí Minh

Tiềm năng về năng lượng gió và năng lượng mặt trời ở Việt Nam là cao, và các nước Bắc Âu không xa lạ gì với ngành công nghiệp này. Trong bối cảnh nguồn năng lượng truyền thống phải mất nhiều năm để phát triển và chưa có hệ thống mới nào, sự phát triển năng lượng gió và mặt trời có thể được thực hiện trong một vài năm và có thể mang lại 1000 MW trong một vài năm với đầu tư từ khu vực tư nhân. Tuy nhiên, trước khi hiện thực hoá kế hoạch, Việt Nam cần cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh và thể chế, như tăng cường các cơ chế chính sách và quy định đảm bảo sự phát triển của các dự án điện gió và mặt trời, tăng cường minh bạch trong các quyết định của Chính phủ về vấn đề năng lượng, tăng cường khuyến khích phát triển dự án và đầu tư vào công nghiệp năng lượng gió và mặt trời, cải thiện chất lượng lưới điện và hạ tầng truyền dẫn, tạo điều kiện tiếp cận các nguồn vốn giá rẻ cũng như có bảo lãnh Chính phủ đối với việc mua điện gió và mặt trời giữa các nhà cơ sở tư nhân và người tiêu dùng thương mại.

Nếu những vấn đề trên chưa được giải quyết, dòng đầu tư từ các công ty Bắc Âu vào lĩnh vực năng lượng tái tạo sẽ tiếp tục bị hạn chế và có nhiều rủi ro. Tuy nhiên, các công ty Bắc Âu vẫn sẽ tiếp tục ưu tiên kinh doanh tại Việt Nam và tiếp tục làm việc với người tiêu dùng, doanh nghiệp địa phương và các cơ quan Chính phủ thông qua các cuộc thảo luận và tham gia đóng góp ý kiến về những vấn đề trên, để có thể hỗ trợ dân cư nông thôn Việt Nam và những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu có một nguồn điện an toàn và ổn định từ nguồn năng lượng tái tạo.

Nới lỏng quy định về giấy phép lao động cho người nước ngoài

Ông Kim Jung In, Chủ tịch KORCHAM

Một trong những kiến nghị hiện nay đối với cộng đồng DN Hàn Quốc là vấn đề nới lỏng quy định về giấy phép lao động. chúng tôi đề nghị sửa đổi quy định để cho phép tuyển dụng người tốt nghiệp các trường trung cấp kỹ thuật hay cao đẳng kỹ thuật khóa 2-3 năm

Theo Nghị định mới 102, có hiệu lực từ 1/ 11 năm 2013, để xin giấy phép lao động, lao động nước ngoài phải có bằng đại học và chứng nhận có kinh nghiệm làm việc tối thiểu 5 năm trong ngành nghề công tác. Một mặt, Nghị định mới có thể giúp cơ quan quản lý tạm thời đối phó với một vấn đề đã tồn tại từ lâu là tình trạng lao động nước ngoài không có kỹ năng đảm nhận các công việc dành cho lao động trong nước; nhưng mặt khác, quy định mới cũng khiến nhiều người nước ngoài đã tốt nghiệp và/hoặc chuyên gia nước ngoài không thể xin được giấy phép lao động. Theo chúng tôi, quy định này là quá chặt chẽ và không cần thiết.

Hiện nay, ở Hàn Quốc có 650 Trường trung học chuyên nghiệp đào tạo nhiều ngành nghề (dệt may, điện tử, CNTT, thiết kế, ô tô, máy tính v.v. ) , với mục tiêu trang bị cho học sinh những kỹ năng về ngành nghề đã chọn (còn gọi là “Trường trung cấp kỹ thuật Meister” từ năm 2010). Tuy học sinh tốt nghiệp những trường kỹ thuật này có trình độ cao sau 3 năm học tập nhưng các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Việt Nam lại gặp vấn đề trong việc tuyển dụng những lao động này do quy định về giấy phép lao động cho người nước ngoài của Việt Nam đòi hỏi phải có bằng đại học và tối thiểu 5 năm kinh nghiệm làm việc trong ngành nghề công tác. Đối với một số lĩnh vực khác như CNTT, điện tử, máy tính, ô tô v.v. trong đó Việt Nam cũng đang gặp vấn đề lớn về thiếu lao động có trình độ, nền kinh tế Việt Nam cũng cần những lao động nước ngoài trình độ cao.

Vì thế, chúng tôi kiến nghị Chính phủ nới lỏng quy định về giấy phép lao động để chúng tôi có thể tuyển dụng được những lao động nước ngoài tốt nghiệp các trường trung cấp kỹ thuật hay cao đẳng kỹ thuật khóa 2-3 năm. Đối với một số ngành như CNTT, điện tử, máy tính, ô tô v.v., chỉ nên quy định lao động nước ngoài hoặc có bằng đại học hoặc có 5 năm kinh nghiệm làm việc để được cấp giấy phép lao động.