2014 – Ngành xi măng đối mặt với khủng hoảng thừa

09:08:27 | 9/8/2010

Các chuyên gia trong ngành vật liệu xây dựng nhận định, từ nay đến năm 2014, lượng cung xi măng trong nước sẽ cao hơn cầu. Nếu Việt Nam không có sự điều tiết sớm ngay từ bây giờ thì trong tương lai thị trường xi măng sẽ có nhiều sự cạnh tranh “nóng”.

Dư thừa ở mức bao nhiêu ?

Theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng hiện toàn ngành xi măng có 105 nhà máy đang hoạt động. Theo đánh giá sơ bộ, trong năm 2010 toàn ngành có mức dư thừa khoảng 3 triệu tấn xi măng và xang năm 2011 con số này sẽ lên khoảng 4-5 triệu tấn còn sang năm 2012 sẽ ở mức 8 triệu tấn. Còn theo báo cáo mới nhất của Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (Vicem), lượng hàng tồn kho hiện nay của doanh nghiệp đầu đàn này đã lên đến gần 1,4 triệu tấn, bao gồm cả xi măng và clinker. Sản lượng tồn kho quá lớn như trên đã khiến Bộ Xây dựng liên tục trong thời gian gần đây đã phải liên tục đưa ra nhiều văn bản yêu cầu các đơn vị trong ngành phải thường xuyên cung cấp thông tin tình hình sản xuất, tiêu thụ clinker và xi măng của tháng trước và tháng hiện tại (ước thực hiện) với nội dung như: khối lượng clinker, xi măng sản xuất và tiêu thụ trong tháng; giá bán clinker và xi măng tại nhà máy, các đại lý; các khó khăn, vướng mắc trong việc sản xuất, tiêu thụ, vận chuyển clinker và xi măng...

Cũng theo dự báo, ở thời điểm cao trào từ nay đến 2014, lượng dư thừa có thể lên tới 10%, hoặc cao hơn nữa. Vì vậy, việc định hướng và quy hoạch sự phát triển của ngành trong giai đoạn tới cần phải có sự tính toán chiến lược dài hơi. Một nguyên nhân khác, sở dĩ giai đoạn 2005- 2010 thị trường xi măng phát triển nhanh là do nhà nước đã có chính sách kích cung riêng với thị trường xi măng. Nay điều kiện trên đã không còn, việc điều chỉnh lại sự phát triển của ngành xi măng theo hướng nào cần phải được bàn thảo sớm để có giải pháp.

Tìm giải pháp ở thị trường xuất khẩu?

Để giải tỏa vấn đề trên, Bộ Xây dựng đã đề nghị với Chính phủ một số biện pháp căn bản nhằm điều tiết tốt hơn thị trường cung cầu của ngành xi măng trong thời gian tới. Cụ thể, Bộ đã có công văn gửi các tỉnh thành địa phương trong cả nước đề nghị không đăng ký tiếp các dự án đầu tư sản xuất xi măng mới. Ngoài ra, Bộ đề xuất với Chính phủ những biện pháp kích cầu tiêu thụ xi măng như: Đẩy mạnh việc làm đường bằng bê tông xi măng, thay thế cho đường asphan (kể cả đường cao tốc, quốc lộ); nâng cấp các tuyến đường, đầu tư cảng chuyên dùng để hỗ trợ việc vận chuyển sản phẩm xi măng từ Bắc vào Nam. Bên cạnh đó, khuyến khích phát triển sản xuất vật liệu xây dựng không nung, thay thế dần gạch đất sét nung cũng là một giải pháp vừa kích cầu cho xi măng, lại hạn chế sử dụng tài nguyên đất sét, bảo vệ môi trường và tạo điều kiện công nghiệp hóa ngành xây dựng.


Một giải pháp được tính đến để tăng nguồn cầu cho ngành xi măng là việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, theo ông Lê Văn Chung, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vicem lại cho rằng: xi măng là sản phẩm xuất khẩu sẽ không mang lại nhiều hiệu quả. Bởi, xi măng là ngành sản xuất tiêu tốn nhiều nguyên, nhiên liệu của quốc gia như đá, than đá... Thêm vào đó, nếu không bảo quản tốt, chỉ một thời gian ngắn, sản phẩm sẽ bị đóng rắn, biến chất. Ngoài ra, muốn xuất khẩu Việt Nam chỉ có thể hướng tới các thị trường như châu Phi, Brazil... Trong khi đó, để xuất khẩu được sang các khu vực xa xôi đó, buộc phải có tàu lớn, trọng tải lên tới 50.000 tấn. Trong khi đó đội tầu có trọng tải lớn như trên ở Việt Nam chưa có sự phát triển, hoặc được sử dụng vào những mục đích sinh lợi cao hơn. Nên việc vận chuyển một sản lượng lớn xi măng xuất khẩu sẽ là một khó khăn trong vận chuyển đẩy giá thành lên cao, khó cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của các nước trên thế giới. Con số xuất khẩu mặt hàng này chỉ dừng ở mức khiêm tốn 40-45 USD/tấn, rất khó bù đắp cho chi phí vận tải. Theo dự báo, trong năm 2010 toàn ngành sẽ xuất khẩu khoảng 1 triệu tấn xi măng. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, mặc dù là doanh nghiệp chủ chốt của ngành, nhưng Vicem cũng mới chỉ xuất sang Lào được chưa tới 500 nghìn tấn, xuất sang Campuchia được vài ba nghìn tấn và xuất sang đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 900 tấn. “Và ngay cả những hợp đồng xuất khẩu loại này nếu không được nhà nước trợ giá thì doanh nghiệp vẫn bị lỗ”, ông Chung nói.

Do đó, để tháo gỡ những khó khăn còn tồn tại của ngành, rất cần có sự hỗ trợ giúp đỡ về cơ chế của các cơ quan quản lý nhà nước từ khâu nhập nguyên liệu đến bài toán xuất khẩu.

Anh Phương