08:56:12 | 30/9/2010
“Việt Nam đã thành công trong quá trình chuyển đổi từ việc thực hiện các biện pháp kích thích kinh tế để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008-2009 sang các chính sách hướng đến mục tiêu tăng trưởng ổn định…”
“…Tuy nhiên, để chuẩn bị cho giai đoạn 10 năm tiếp theo với tư cách là một nước có mức thu nhập trung bình, Việt Nam cần phải cẩn trọng trong việc duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, truyền đạt một cách có hiệu quả đường lối chính sách đó đến người dân đồng thời tiếp tục thúc đẩy các cải cách”, đây là những nhận định mà Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã nêu rõ trong Báo cáo Cập nhật về Triển vọng Phát triển Châu Á 2010 (ADO Update) được công bố vừa qua tại Hà Nội.
Tăng trưởng 6,7%
Báo cáo Cập nhật Triển vọng Phát triển Châu Á đã nâng mức dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2010 từ 6,5% lên 6,7%, trong năm 2011 từ 6,8% lên 7%, đồng thời hạ mức dự báo lạm phát năm 2010 xuống 8,5% và năm 2011 xuống 7,5%.
Ông Ayumi Konishi, Giám đốc Quốc gia của ADB tại Việt Nam nói: “Kể từ cuộc họp báo về Báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á 2010 vào tháng 4 năm nay, Việt Nam đã củng cố sự ổn định kinh tế vĩ mô của mình và với kết quả đó, ABD đã điều chỉnh theo hướng tăng mức dự báo tăng trưởng cho năm 2010 và 2011, đồng thời hạ mức dự báo về tỷ lệ lạm phát.”
Báo cáo Cập nhật Triển vọng Phát triển Châu Á đã ghi nhận những biện pháp mà Chính phủ Việt Nam thực hiện để bình ổn nền kinh tế đã góp phần cải thiện dự trữ ngoại hối. Với việc cải thiện tài khoản vốn, cán cân thanh toán tổng thể có thể sẽ chuyển sang mức thặng dư nhỏ trong Quí II năm 2010 sau khi liên tục thâm hụt kể từ đầu năm ngoái. Tăng trưởng kinh tế trong Quí II đã có tốc độ nhanh hơn.
Báo cáo đặc biệt ghi nhận việc Quốc hội đã thông qua hai luật vào tháng 6 năm 2010: Luật mới về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng, cùng với một loạt văn bản pháp luật khác do ngân hàng trung ương và các cơ quan khác ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường khuôn khổ pháp lý để thực hiện chính sách tiền tệ và bảo vệ sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Hai luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2011.
Luật Ngân hàng Nhà nước mới sẽ giúp nâng cao quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của ngân hàng trung ương trong việc hoạch định và thực hiện chính sách tiền tệ. Luật mới quy định rõ các mục tiêu chính của chính sách tiền tệ là nhằm ổn định giá trị đồng tiền và kiểm soát lạm phát, nhấn mạnh nhiều hơn đến các mục tiêu này hơn so với luật hiện hành. Ngoài ra, thẩm quyền thanh tra giám sát của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng cũng được tăng cường theo khuôn khổ luật mới ban hành.
Luật về các Tổ chức Tín dụng mới sẽ cho phép các tổ chức tín dụng được tự chủ nhiều hơn và linh hoạt hơn trong hoạt động kinh doanh, ví dụ như trong việc quy định mức phí và lãi suất, cũng như cho phép kinh doanh nhiều dịch vụ tài chính đa dạng hơn.
Luật mới này cũng đơn giản hóa các thủ tục hành chính đối với hoạt động ngân hàng, và yêu cầu các tổ chức tín dụng dần dần áp dụng các thực tiễn quốc tế tốt nhất. Luật này áp dụng cho cả ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Triển vọng lớn
Việc đánh giá triển vọng của ADB dựa trên cơ sở giả định rằng chính phủ sẽ tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong giai đoạn dự báo, để cho cán cân thanh toán dần dần được cải thiện và thâm hụt ngân sách giảm bớt. Cũng giả định rằng các cơ quan chức năng đặt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng là 25% và duy trì những nỗ lực để bảo vệ và tăng cường sự an toàn, vững chắc của hệ thống ngân hàng.
Dựa trên những giả định này, hoạt động đầu tư của chính phủ có thể sẽ bị hạn chế bằng việc thắt chặt ngân sách, song sự phục hồi của nền thương mại thế giới và tình hình tài chính sẽ làm cơ sở cho đầu tư tư nhân tăng trưởng. Minh chứng cho sự cải thiện về môi trường đầu tư, xếp hạng của Việt Nam trong Báo cáo Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã tăng lên vị trí 59 trên 139 nước trong năm 2010 (từ vị trí 75 trong năm 2009), và xếp hạng trong Chỉ số Thuận lợi Thương mại của Diễn đàn này cũng tăng lên vị trí 71 trong 125 quốc gia (từ vị trí 89 trong năm 2009). Tiến bộ đạt được trong Đề án 30 của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính là việc giảm bớt thủ tục phiền hà cho doanh nghiệp.
Tăng trưởng tiêu dùng tư nhân dự báo sẽ tăng lên trong giai đoạn dự báo, nhờ thu nhập cao hơn và luồng kiều hối phục hồi trở lại.
ADB cũng đánh giá, Việt Nam có lợi đáng kể từ sự phục hồi của thương mại thế giới, dự báo sẽ vẫn tiếp tục cải thiện trong năm 2011 với tốc độ tương đương như năm nay. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào khoảng 30% trong giai đoạn tháng Bảy – Tám 2010, giúp cho sự tăng trưởng của ngành công nghiệp, và một phần cho sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Đặc biệt, thương mại với CHND Trung Hoa (bao gồm cả Hồng Kông, Trung Quốc) đã tăng mạnh nhờ sự hồi phục của các nền kinh tế này, thêm vào đó là hiệp định thương mại tự do giữa CHND Trung Hoa và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á bắt đầu có hiệu lực từ tháng Giêng 2010.
Tác động của việc mất giá đồng Việt Nam trên thực tế đối với thâm hụt thương mại (do sự mất giá danh nghĩa lớn hơn so với lạm phát) được đánh giá là không lớn, chủ yếu do việc xuất khẩu hàng chế tác thường đòi hỏi phải sử dụng nhiều nguyên vật liệu và thiết bị ngoại nhập.
Trên cơ sở đó, tăng trưởng GDP trong năm 2010 được dự báo vào khoảng 6,7%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế dự báo sẽ cao hơn trong năm 2011, vào khoảng 7% khi niềm tin của nhà đầu tư phục hồi trở lại đi đôi với tỉ lệ lạm phát giảm bớt và vị thế đối ngoại vững chắc hơn.
Mức thâm hụt tài khoản vãng lai hiện nay tính trên GDP được dự báo sẽ giảm bớt trong giai đoạn dự báo nhờ tài khoản thương mại cải thiện, luồng kiều hối đổ về tăng và sự phụ hồi của ngành du lịch. Dự báo về thâm hụt cán cân vãng lai (7,5% GDP trong năm 2010 và 5,4% trong năm 2011). Cán cân thanh toán tổng thể dự báo sẽ tiếp tục được cải thiện, nhờ tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài được cải thiện do nền kinh tế tăng trưởng và luồng vốn đổ vào tăng. Dự trữ ngoại hối dự báo sẽ tăng nhẹ, về mức an toàn hơn.
Lạm phát dự báo vào khoảng 8,5% trong năm 2010, giảm xuống còn khoảng 7,5% vào năm 2011 với giả định là sự ổn định kinh tế vĩ mô trong nước vẫn được duy trì, và giá dầu và giá hàng hóa thế giới tương đối ổn định trong năm 2010. Những dự báo này được điều chỉnh giảm xuống một chút so với tháng Tư, do tình hình kinh tế vĩ mô cải thiện và tăng trưởng tín dụng giảm xuống. Tuy nhiên, tình hình lạm phát biến động mạnh (từ 28% tính theo năm vào tháng Tám 2008 xuống 2% vào tháng Tám 2009, sau đó lại tăng lên trên 8% trong năm nay), cùng với kỳ vọng về việc tiền đồng mất giá, cho thấy rằng kỳ vọng lạm phát cũng không hoàn toàn chắc chắn.
Chính phủ Việt Nam đang xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho giai đoạn mười năm tiếp theo, bắt đầu từ năm 2011. Đây là một cơ hội để giải quyết những nút thắt cổ chai về cơ sở hạ tầng, những khiếm khuyết về khuôn khổ pháp lý dành cho khu vực tư nhân, sự kém hiệu quả và các vấn đề quản trị doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhà nước, và tình trạng thiếu hụt kỹ năng lao động. Các chính sách về cơ cấu giúp thúc đẩy tăng năng suất và các hoạt động có giá trị gia tăng cao là chìa khóa để đạt được tăng trưởng tốt và mang lại lợi ích đến cho nhiều người dân hơn.
Đặc biệt, ông Konishi khuyến nghị, Việt Nam cần tiếp tục những nỗ lực để đảm bảo người dân nói chung có hiểu biết hơn về đường lối chính sách của Việt Nam thông qua việc cung cấp các thông tin và số liệu kịp thời và đầy đủ hơn. Điều này không chỉ áp dụng đối với Chính phủ mà còn đối với cả khu vực doanh nghiệp. Để nâng cao năng lực quản trị cho cả các doanh nghiệp nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân, yếu tố chủ chốt là cần cung cấp thông tin có chất lượng và kịp thời cho chủ sở hữu doanh nghiệp, các cổ đông và các nhà đầu tư tiềm năng.”
Hải Anh