09:25:38 | 27/9/2010
Năng lượng trở thành một trong những nhu cầu thiết yếu của con người và là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của hoạt động kinh tế. Khi mức sống của người dân càng cao, trình độ sản xuất của nền kinh tế ngày càng hiện đại thì nhu cầu về năng lượng cũng ngày càng lớn, và việc thỏa mãn nhu cầu này thực sự là một thách thức đối với hầu hết mọi quốc gia.
Ở Việt Nam, sự khởi sắc của nền kinh tế từ sau Đổi Mới làm nhu cầu về điện gia tăng đột biến trong khi năng lực cung ứng chưa phát triển kịp thời. Nếu tiếp tục đà này, nguy cơ thiếu điện vẫn sẽ còn là nỗi lo thường trực của ngành điện lực Việt Nam cũng như của các doanh nghiệp và người dân cả nước.
Tình hình sử dụng nguồn điện ở nước ta trong thời gian gần đây đã đưa ra những báo động, điều đáng lo ngại nhất là thiếu điện cho sinh hoạt và trong sản xuất, Tốc độ tăng trưởng trung bình của sản lượng điện ở Việt Nam trong 20 năm trở lại đây đạt mức rất cao, khoảng 12-13%/năm - tức là gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Chiến lược công nghiệp hóa và duy trì tốc độ tăng trưởng cao để thực hiện “dân giàu, nước mạnh” và tránh nguy cơ tụt hậu sẽ còn tiếp tục đặt lên vai ngành điện nhiều trọng trách và thách thức to lớn trong những thập niên tới. Để hoàn thành được những trọng trách này, ngành điện phải có khả năng dự báo nhu cầu về điện năng của nền kinh tế, trên cơ sở đó hoạch định và phát triển năng lực cung ứng của mình. Bên cạnh những chính sách và chiến lược cho sự phát triển ngành điện trong tương lai thì một trong những hướng đi mới cho ngành điện đó là phát triển nguồn năng lượng mới bên cạnh những biện pháp như tiết kiệm điện và tăng giá điện lên nhằm giảm bớt áp lực thiếu điện trong tương lai thì một mặt là khai thác các nguồn năng lượng truyền thống, mặt khác, thậm chí còn quan trọng hơn, phát triển các nguồn năng lượng mới, đặc biệt là các nguồn năng lượng sạch và có khả năng tái tạo. Khả năng này phụ thuộc rất nhiều vào những phát triển của công nghệ trong tương lai cũng như vào mức giá tương đối của các nguồn năng lượng khác nhau. Cho đến thời điểm này, chúng ta mới bắt đầu đi vào khai thác những nguồn này trong lúc đó các nước trên thế giới đã đưa vào sử dụng và áp dụng rộng rải công nghệ mới này trong sản xuất và sinh hoạt.
Phát triển nguồn năng lượng mới
Hiện có ba công nghệ được sử dụng rộng rãi nhất là lò nước áp lực (PWR) chiếm khoảng 60%, lò nước sôi (BWR) 21%, lò nước nặng (CANDU) khoảng 10%. Ngày càng có nhiều nước chọn hoặc quay lại với chương trình phát triển điện hạt nhân. Các chuyên gia hàng đầu thế giới vẫn khẳng định: nếu không phát triển năng lượng hạt nhân thì loài người không thể giải quyết được vấn đề năng lượng. Xu hướng phát triển công nghệ điện hạt nhân trong thời gian tới là nâng cao các đặc tính về an toàn và cạnh tranh kinh tế, an toàn hơn, dễ xây dựng và vận hành, giảm chất thải phóng xạ.
Ðối với nước ta, tuy tiềm năng năng lượng sơ cấp đa dạng nhưng với tốc độ phát triển kinh tế nhanh, điện năng bình quân đầu người còn thấp như hiện nay thì khả năng đáp ứng nhu cầu điện năng tăng nhanh trong tương lai là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Theo tính toán, nếu chỉ dựa vào các nguồn nhiên liệu trong nước để sản xuất điện, Việt Nam sẽ thiếu hụt từ 49 đến 112 tỷ kW giờ điện (tùy kịch bản) trong năm 2020. Hơn nữa, để đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thì đầu tư xây dựng NMÐHN là giải pháp tối ưu, góp phần: đa dạng hóa nguồn năng lượng sơ cấp, đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện năng cho đất nước trong tương lai, tăng cường an ninh năng lượng; tăng cường tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển nhiều ngành công nghiệp và kinh tế khác; giảm phát thải khí ô nhiễm môi trường (bụi, CO2, SOx, Nox...) từ các nhiên liệu hóa thạch...
Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng Biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại Biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa . Việt Nam còn được đánh giá là một quốc gia có tiềm năng gió lớn nhất so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Lào và Campuchia…Trong khi Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ „tốt“ đến „rất tốt“ để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%. Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện gió cỡ nhỏ phục vụ cho phát triển kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt Nam có đến 41% diện tích nông thôn có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so sánh con số này với các nước láng giềng thì Campuchia có 6%, Lào có 13% và Thái Lan là 9% diện tích nông thôn có thể phát triển năng lượng gió.
Ưu điểm dễ thấy nhất của điện bằng sức gió là không tiêu tốn nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường như các nhà máy nhiệt điện, dễ chọn địa điểm và tiết kiệm đất xây dựng, khác hẳn với các nhà máy thủy điện chỉ có thể xây dựng gần dòng nước mạnh với những điều kiện đặc biệt và cần diện tích rất lớn cho hồ chứa nước.
Các trạm điện bằng sức gió có thể đặt gần nơi tiêu thụ điện, như vậy sẽ tránh được chi phí cho việc xây dựng đường dây tải điện. Ngày nay điện bằng sức gió đã trở nên rất phổ biến, thiết bị được sản xuất hàng loạt, công nghệ lắp ráp đã hoàn thiện nên chi phí cho việc hoàn thành một trạm điện bằng sức gió hiện nay chỉ bằng 1/4 so với năm 1986.
Trạm điện bằng sức gió có thể đặt ở những địa điểm và vị trí khác nhau, với những giải pháp rất linh hoạt và phong phú. Các trạm điện bằng sức gió đặt ở ven biển cho sản lượng cao hơn các trạm nội địa vì bờ biển thường có gió mạnh. Giải pháp này tiết kiệm đất xây dựng, đồng thời việc vận chuyển các cấu kiện lớn trên biển cũng thuận lợi hơn trên bộ. Dải bờ biển Việt Nam trên 3.000km có thể tạo ra công suất hàng tỉ KW điện bằng sức gió.
Những mỏm núi, những đồi hoang không sử dụng được cho công nghiệp, nông nghiệp cũng có thể đặt được trạm điện bằng sức gió. Trường hợp này không cần làm trụ đỡ cao, tiết kiệm đáng kể chi phí xây dựng.
Như vậy, trong tương lai không xa vai trò của những nguồn năng lượng mới đối với nền kinh tế đất nước là rất lớn, sẻ là một động lực mạnh mẻ thúc đẩy con tàu kinh tế Việt Nam đi lên và phát triển theo hướng bền vững và lâu dài hơn.
Văn Tá