Thực hiện MDGs: Việt Nam đã về đích sớm

10:02:53 | 22/9/2010

Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những nước đi đầu trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (gọi tắt là MDGs: Millennium Development Goals). Theo Báo cáo MDG quốc gia Việt Nam công bố ngày 17/9 tại Hà Nội, Việt Nam đã “về đích” sớm với 5/8 mục tiêu đề ra của LHQ trước thời hạn, có thể cơ bản đạt hết các mục tiêu vào năm 2015.

Tại cuộc hop báo vừa qua tại Hà Nội, đại diện Cơ quan phát triển liên hiệp quốc-UNDP tại Việt Nam đánh giá, trong tất cả các mục tiêu thiên niên kỷ, Việt Nam đạt được tiến bộ ấn tượng nhất ở mục tiêu thiên niên kỷ 1 về giảm nghèo. Việt Nam đã giảm được 75% tỉ lệ nghèo, từ 58.1% năm 1990 xuống còn 14.5% năm 2008. Tỉ lệ thiếu đói giảm hơn 2/3, từ 24.9% năm 1993 xuống còn 6.9% năm 2008.

Tuy nhiên, theo UNDP, mặc dù tỉ lệ nghèo chung đã giảm đáng kể nhưng vẫn còn có sự chênh lệch rất lớn. Ví dụ, hơn một nửa các nhóm dân tộc thiểu số vẫn đang sống dưới chuẩn nghèo và đã bắt đầu xuất hiện các dạng nghèo mới, bao gồm nghèo lâu năm, nghèo thành thị, nghèo ở trẻ em và người di cư nghèo. Nhằm giải quyết các tình trạng nghèo này, theo UNDP, Việt Nam cần phải có các phương pháp tiếp cận đa chiều và riêng biệt, trong đó ghi nhận là nghèo bao hàm nhiều yếu tố hơn thu nhập hộ gia đình – là nghèo tính theo tiền tệ.

Ngoài ra, Việt Nam cũng đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc đạt được phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 2009, tỉ lệ nhập học tiểu học là 97% và 88.5% trẻ em đi học đã hoàn thành 5 năm tiểu học. Trong số này, hơn 90% tiếp tục học trung học cơ sở, và không có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn. Tỉ lệ về giới cũng khá đồng đều, với gần một nửa học sinh là trẻ em gái ở cả cấp tiểu học lẫn trung học.

Theo UNDP, Việt Nam cần đảm bảo giữ vững thành tựu, trong 5 năm tới cần chú ý đến một số lĩnh vực, đặc biệt là chất lượng và chi phí cho giáo dục.

Hiện nay, chất lượng giáo dục vẫn còn không đồng đều và tương đối kém ở Việt Nam vì thiếu đội ngũ giáo viên được đào tạo tốt, thiếu giáo trình phù hợp. Để tất cả trẻ em, trai và gái, được thực hiện quyền hưởng nền giáo dục có chất lượng thì Việt Nam cần phải có các cơ hội học tập phong phú, phù hợp và linh hoạt để đáp ứng nhu cầu đa dạng của tất cả học sinh. Tất cả trẻ em phải được đặt vào trung tâm của ngành giáo dục. Vì Việt Nam đang trên đường trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, hệ thống giáo dục cần phải đưa ra một loại hình giáo dục không những dạy trẻ em những kiến thức và kỹ năng cơ bản mà còn trang bị cho các em những kỹ năng để chuẩn bị cho các em bước vào một thế giới đang thay đổi.

Với vấn đề tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ (MDG3), Việt Nam đã rất thành công trong việc nâng cao tỷ lệ trẻ gái học tiểu học và trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh nữ bậc tiểu học là 48,2%, bậc trung học cơ sở là 48,1% và trung học phổ thông là 49,1%. Tỷ lệ phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế năm 2010 ước đạt mức 83%, trong khi của nam giới là 85%. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước đứng đầu trong khu vực về tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hộ: 25,8% đại biểu Quốc hộ là phụ nữ.

Với mục tiêu giảm 2/3 tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi từ năm 1990 đến năm 2015 (MDG4), Việt Nam đã đạt được các mục tiêu về giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới năm tuôi và trẻ sơ sinh, với cả hai tỷ lệ trên đều giảm một nửa từ năm 1990 đến 2006. Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm từ 44.4 trên 1,000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 16 trên 1000 ca đẻ sống năm 2009. Tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi cũng được giảm đáng kể, từ 58 trên 1000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 24.4 năm 2009. Hơn nữa tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị nhẹ cân giảm từ 25.2% năm 2005 xuống còn 18.9% năm 2009.

Theo khuyến cáo của UNDP, nhằm phát huy những thành tựu này và đảm bảo rằng tỉ lệ tử vong trẻ em tiếp tục được cải thiện, một số lĩnh vực cần được chú ý, đặc biệt là tử vong ở trẻ dưới 1 tháng tuổi và tỷ lệ còi cọc.Mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể, nhưng phần lớn số trẻ tử vong dưới 1 tuổi vẫn xảy ra ở tháng đầu tiên, chiếm gần 60% các ca tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi và 40% các ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Các ca tử vong này là có thể phòng tránh được nếu các nhân viên y tế được đào tạo tốt về theo dõi thai kỳ, trợ giúp khi sinh và chăm sóc sau sinh. Nguyên nhân đáng chú ý của trẻ tử vong trong tháng đầu là vì nhiều phụ nữ sống ở miền núi không tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Vì vậy, việc đầu tư nhiều hơn nữa vào hệ thống cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực là rất quan trọng, đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc và cao nguyên Trung bộ.

Với việc thực hiện MDG 5- nâng cao sức khoẻ bà mẹ, đến nay, tỷ số tử vong mẹ đã giảm một cách đáng kể trong vòng hai thập kỷ qua, từ 233 ca chết trên 100.000 ca sinh sống vào năm 1990 xuống còn 69 ca chết trên 100.000 ca sinh sống vào năm 2009, giảm khoảng 2/3 số ca tử vong mẹ liên quan thai sản. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao tiếp cận sức khoẻ sinh sản cho tất cả mọi người bao gồm chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh, kế hoạch hoá gia đình; tăng cường việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại; xây dựng các chương trình, chính sách và luật pháp về sức khoẻ sinh sản và quyền, cũng như các dịch vụ có chất lượng tới người nghèo và các nhóm dân số dễ bị tổn thương.

Ngoài ra, để ngăn chặn HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác (MDG6), theo đánh giá của UNDP, Việt Nam đã có tiến bộ đáng kể trong việc xây dựng khung pháp lý và chính sách trong những năm gần đây. Việt Nam có chiến lược phát triển và 9 kế hoạch để ứng phó với HIV. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong tất cả các nhóm tuổi vào năm 2010 ước tính là 0,28%. Độ bao phủ của dịch vụ điều trị kháng virus đã tăng từ khoảng 30% năm 2007 lên đến 53,7% vào năm 2009.

Các bước tiến rất ấn tượng của Việt Nam trong lĩnh vực phòng, chống sốt rét cho thấy Việt Nam đã đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về phòng, chống sốt rét. Việt Nam cũng được công nhận là đã khống chế rất tốt các dịch bệnh khác như SARS, H5N1 và H1N1.

UNDP cũng đánh giá, Việt Nam cam kết giải quyết các vấn đề môi trương ở cấp quốc tế và chính sách và đã đạt được những thành tích đáng kể trong việc thực hiện mục tiêu 7. Chẳng hạn, diện tích rừng bao phủ tăng từ 27,8 % năm 1990 lên khoảng 40% năm 2010. Ngày nay có khoảng 83% dân số vùng nông thôn có thể tiếp cận nước sạch, tăng so với 30% vào năm 1990.

Mai Ngọc