08:38:55 | 8/9/2010
Tuy có vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện thiên nhiên ưu đãi và được nhiều chuyên gia đánh giá là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lại có tốc độ phát triển chậm hơn các vùng khác, nhất là việc thu hút vốn đầu tư phát triển vẫn còn nhiều hạn chế.
Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao; cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn quá yếu kém…là những “nút thắt cổ chai” trong quá trình thu hút đầu tư nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung của toàn vùng. Chừng nào chưa giải quyết được những rào cản này thì chắc chắn ĐBSCL chưa thể “cất cánh” được… Nhận định trên được nêu lên tại Hội thảo Xây dựng chính sách đặc thù thu hút đầu tư tại ĐBSCL do Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Viện Friedrich Ebert Stiftung (CHLB Đức) phối hợp tổ chức tại Tp.Cần Thơ ngày 26/8 vừa qua.
Nhiều lực cản
Tại hội thảo, các đại biểu đã nghe ông Lê Viết Thái – Trưởng ban Thể chế kinh tế CIEM trình bày dự thảo Đề án “Xây dựng chính sách đặc thù thu hút đầu tư vào Vùng ĐBSCL”. Đề án được thực hiện trên cơ sở điều tra tình hình thu hút đầu tư thực tế tại ĐBSCL thời gian qua với mục tiêu đánh giá thực chất tiềm năng của vùng ĐBSCL, những hạn chế của vùng trong phát triển và mời gọi đầu tư.
ĐBSCL là một vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, đặc biệt phát triển mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản với kim ngạch xuất khẩu hàng tỉ USD/năm. Thời gian qua, ĐBSCL chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nội ngành khá mạnh và phát triển công nghiệp cũng chừng mực để phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp. Vùng có tốc độ tăng trưởng công nghiệp khá; nhiều dự án lớn, quy mô vùng và cả nước cũng như các KCN, cụm CN đã và đang được triển khai như dự án khí-điện-đạm Cà Mau, KCN Trà Nóc 1, Trà Nóc 2, Hưng Phú 1, Hưng Phú 2 (Tp.Cần Thơ); Khánh An (Cà Mau); Bình Hoà, Vàm Cống (An Giang); Thạnh Lộc, Thuận Yên (Kiên Giang)…Trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng đạt 7,7%/năm, giai đoạn 2006-2010 ước khoảng 7,5%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, những lợi thế trong vùng bước đầu được phát huy. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên quá trình phát triển kinh tế của ĐBSCL vẫn bộc lộ những vấn đề bất cập, yếu kém, chưa khai thác được tiềm năng phong phú của vùng để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giao thông thủy bộ và hệ thống cảng biển còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của vùng. Các tuyến quốc lộ huyết mạch của miền Tây như quốc lộ 91, 80, 54…đều hư hỏng nghiêm trọng hoặc thi công với tốc độ quá chậm, giao thông thường xuyên bị ách tắc. Hai tuyến vận tải thủy quan trọng nhất là sông Tiền và sông Hậu thì tàu có tải trọng lớn không thể lưu thông. Hệ thống cảng biển và cảng sông hiện nay cũng hoàn toàn chưa đáp ứng được yêu cầu. Tất cả hàng hóa xuất khẩu từ ĐBSCL đều phải trung chuyển lên các cảng miền Đông Nam Bộ, làm gia tăng chi phí và thời gian.
Cùng với yếu kém về hạ tầng cơ sở thì chất lượng đội ngũ lao động còn quá thấp cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả thu hút đầu tư vào khu vực này. Trong khi 54% lực lượng lao động của cả nước có trình độ THCS trở lên thì con số này ở ĐBSCL chỉ là 27% - hệ quả của hiện tượng chảy máu chất xám đang trở nên vô cùng nhức nhối. Bên cạnh đó tính vô kỷ luật của lực lượng lao động cũng là một nhân tố làm nản lòng các doanh nghiệp khi họ có ý định mở rộng hoặc xây mới doanh nghiệp ở vùng ĐBSCL. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiện tượng tỷ lệ thiếu việc làm của ĐBSCL cao nhất nước, tỷ lệ thất nghiệp chỉ đứng sau vùng Đông Nam Bộ.
Ngoài ra dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp còn hạn chế cũng góp phần giảm sức hút của môi trường đầu tư khu vực. Theo kết quả điều tra của Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI), xét về chất lượng các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp thì 12 tỉnh của vùng ĐBSCL (trừ Tp.Cần Thơ) đều nằm trong top 20 ở đáy. Mặc dù thời gian gần đây, nhiều hội chợ triễn lãm, festival được các địa phương trong vùng quan tâm tổ chức song hiệu quả chưa cao, những dịch vụ được cung ứng đã không đáp ứng đúng nhu cầu thực sự của các nhà đầu tư.
Cùng với hạn chế về hạ tầng, giao thông, nguồn nhân lực, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp thì cơ chế chính sách thu hút đầu tư chưa hấp dẫn, các địa phương xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thiếu đồng bộ… cũng là những “nút thắt cổ chai” quan trọng làm giảm hiệu quả thu hút đầu tư, cản trở tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của ĐBSCL. Chính từ những rào cản này mà dù hội tụ nhiều tiềm năng lợi thế để phát triển thành một vùng kinh tế sôi động của cả nước nhưng thời gian qua, phần lớn các địa phương khu vực ĐBSCL vẫn chưa phải là điểm dừng chân lý tưởng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Khắc phục thực trạng này, Chính phủ đã ban hành rất nhiều cơ chế, chính sách đặc thù cho sự phát triển của vùng nhưng thiếu nguồn lực tài chính để thực hiện và cuối cùng những cơ chế, chính sách này vẫn nằm trên giấy.
Gỡ nút thắt
Tại hội thảo, nhiều đại biểu cho rằng, sự hỗ trợ của Trung ương thông qua một cơ chế đặc thù là điều kiện mang tính quyết định để tăng sức hút đầu tư vào ĐBSCL. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc thu hút đầu tư vào ĐBSCL thời gian tới cần kiên quyết “nói không” với các dự án tác động xấu đến môi trường và xã hội; tránh những chính sách, cơ chế mang lại lợi ích cho địa phương này nhưng lại ảnh hưởng đến lợi ích các địa phương lân cận vì thiếu tính liên kết; đảm bảo sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư thuộc nhiều thành phần kinh tế trong cùng một lĩnh vực. 5 đề án cấp vùng ĐBSCL được Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ và lãnh đạo các tỉnh, thành xác định sẽ tập trung thực hiện để tăng sức hút đầu tư thời gian tới là: liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo; phát triển thủy sản (tôm, cá da trơn); nâng cao năng lực sản xuất và tiêu thụ trái cây; đào tạo nghề nông thôn; liên kết vùng với sự tham gia của bốn nhà (nhà nước - nhà nông - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học). Ông Nguyễn Thanh Bế - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu đề xuất Chính phủ cũng cần xem lại chính sách xuất khẩu gạo, kiên quyết tránh vấn nạn chạy theo thành tích. Bởi với mặt bằng giá như hiện nay, xuất khẩu gạo không đem lại nhiều lợi nhuận cho nông dân so với tiêu thụ trong nước hoặc sử dụng đất vào mục tiêu sản xuất nông nghiệp khác. Việc quản lý xuất khẩu gạo cần đổi mới theo hướng đem lại quyền chủ động và nhiều lợi ích hơn cho cả “4 nhà”.
Theo ông Nguyễn Thanh Sơn - Phó Chủ tịch UBND Tp. Cần Thơ, để tạo thế và lực cho ĐBSCL cất cánh, nhất thiết phải gia tăng sự liên kết vùng giữa các địa phương trong khu vực cũng như giữa ĐBSCL với các vùng kinh tế khác trong cả nước. Nếu các tỉnh ĐBSCL chưa thể tập trung được các nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tăng khả năng hấp dẫn và cải thiện môi trường thu hút đầu tư thì cần tập trung củng cố, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, dịch vụ và môi trường đầu tư các KCN hiện có để thu hút các nhà đầu tư trong và nước ngoài. Cũng liên quan đến vấn đề thu hút đầu tư vào các khu, cụm, tuyến CN, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang Trần Thành Lập cho biết hiện tỷ lệ lấp đầy tại các khu, cụm CN trong vùng đang ở mức thấp, vì thế ĐBSCL cần tập trung rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch các khu, cụm, tuyến CN trong vùng. Cụ thể trong giai đoạn trước mắt cần tập trung hướng các khu, cụm, tuyến CN phục vụ cho việc phát triển các sản phẩm chủ lực của vùng. Việc quy hoạch khu, cụm, tuyến CN cần phải gắn kết với lợi thế cạnh tranh từng địa phương và vùng, khắc phục nhược điểm manh mún, dàn trải hiện nay. Đặc biệt, các địa phương cần tìm những lợi thế khác để phát triển chứ không thể dựa vào các lợi thế về giá thuê đất rẻ, lao động, tài nguyên… vì những lợi thế này chỉ có thể tồn tại nhất thời. Trong xu hướng toàn cầu hoá như hiện nay, những ưu thế đó dễ dàng dịch chuyển từ vùng này sang vùng khác, lãnh thổ này sang lãnh thổ khác.
Cũng theo ông Lập, lực cản lớn nhất trong tiến trình phát triển của ĐBSCL hiện nay chính là địa giới hành chính, chính yếu tố này đã tạo sự cạnh tranh gay gắt giữa các địa phương, gây thất thoát tiềm năng và làm suy yếu nội lực phát triển của toàn vùng. Trong hoàn cảnh này thì một chính sách lan tỏa sẽ hình thành nên mối liên kết vùng bền chặt, tạo bệ phóng vững chãi cho sự phát triển toàn diện của ĐBSCL về sau này.
Riêng Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng Trần Thành Nghiệp khuyến nghị trong thời gian tới, để đạt được mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế bền vững, khu vực ĐBSCL cần tiếp tục phát huy lợi thế, tiềm năng và không ngừng cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đồng thời tăng huy động từ các nguồn vốn trong và ngoài nước nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển ngày một cao cho những năm trước mắt cũng như lâu dài.
Cùng với những đề xuất trên, còn rất nhiều ý kiến đóng góp khác của các đại biểu tham dự hội thảo. Đáng chú ý là ý kiến đề nghị xoá bỏ chính sách hạn điền để ĐBSCL có thể tổ chức sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đề nghị Chính phủ đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi đa mục tiêu, nếu không sẽ không thể nào thực hiện liên kết vùng trong sản xuất lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thuỷ sản tại ĐBSCL. Đây được xem là một đề xuất bám sát vào nguyên nhân kém phát triển của ĐBSCL thời gian qua, do đó khi trở thành chiến lược phát triển cụ thể sẽ thực sự giải phóng được những trì trệ thời gian qua, tạo động lực cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của toàn vùng trong tương lai.
Kết thúc hội thảo, Phó Viện trưởng CIEM Trần Xuân Lịch cho biết sau hội thảo lần này, Bộ Kế hoạch & Đầu tư sẽ gửi văn bản xin ý kiến Bộ Công Thương, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và UBND 13 tỉnh, thành ĐBSCL lần nữa để hoàn thiện thêm Đề án trước khi chính thức trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 9/2010.