Xóa bỏ rào cản để tăng xuất khẩu vào thị trường Australia

14:36:59 | 3/5/2019

Là một trong 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới và một trong 10 điểm đến hấp dẫn nhất của FDI toàn cầu, Australia đã và đang trở thành một trong những thị trường xuất khẩu và đầu tư rất tiềm năng. Đối với Việt Nam, Australia cùng tham gia chung trong nhiều hiệp định thương mại tự do, tuy nhiên, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Australia vẫn còn khá hạn chế.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu không phải sản phẩm chủ lực

Việt Nam và Australia vừa có thêm một FTA mới là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) – FTA có mức độ tự do hóa và phạm vi cam kết lớn nhất từ trước tới nay của Việt Nam, có hiệu lực từ đầu 2019. Trong CPTPP, Australia có thêm nhiều cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động cho Việt Nam so với Hiệp định thương mại tự do (FTA) ASEAN – Australia/New Zealand (AANZFTA), mở ra những cơ hội mới cho xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này.

Trong vòng 10 năm, kể từ năm 2005, kim ngạch thương mại hai chiều giữa 2 nước đã tăng gấp hai lần, từ 3 tỷ lên 6 tỷ USD.

Tuy nhiên, tại hội thảo “ Tiềm năng thị trường Australia- Từ Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương- CPTPP” do Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI phối hợp với Chương trình Aus4Skills – Australia Global Alumni tổ chức, bà Phùng Thị Lan Phương, Trưởng phòng FTA -Trung tâm WTO và Hội nhập, VCCI cho rằng, 10 năm qua, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Ausralia chưa có đột phá. Australia là bạn hàng nhập khẩu đứng thứ 12 của Việt Nam và Việt Nam là bạn hàng thứ 14 của Australia cả về nhập khẩu và xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt – Australia trung bình trong 10 năm gần đây chỉ chiếm 1,8% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và chỉ chiếm 1,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của Australia.

Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang Australia thấp hơn tăng trưởng xuất khẩu trung bình của Việt Nam dù Australia là đối tác FTA của Việt Nam. Đó là chưa kể đến cơ cấu nhập khẩu của Australia và cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam không thật sự bổ sung cho nhau.

Những sản phẩm nhập khẩu chính của Australia là: lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí, nhiên liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm chưng cất từ chúng, máy điện, máy ghi và tái tạo âm thanh, hình ảnh; dược phẩm; dụng cụ, thiết bị máy quang học, nhiếp ảnh điện ảnh; tàu thủy, thuyền và các kết cấu nổi; ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý, kim loại quý, plastic và các sản phẩm bằng plastic.

Trong khi đó, những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là : máy điện và thiết bị điện, giầy dép, quần áo và hàng may mặc phụ trợ, đồ nội thất, dụng cụ, thiết bị và máy quan học nhiếp ảnh, điện ảnh; cá và động vật giáp xác; hoa quả, cà phê, chè và các loại gia vị.

Tuy nhiên, dư địa vẫn còn nhiều cho các sản phảm xuất khẩu của Việt Nam như: dầu mỏ thô, màn hình và máy chiếu, giày dép, dừa, hạt điều, máy xử lý/truyền dữ liệu tự động, máy in, copy, fax...

Vì sao xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Australia còn hạn chế? Theo bà Phương, đó là những sản phẩm xuất khẩu truyền thống của Việt Nam lại không phải sản phẩm mà Australia có nhu cầu nhập khẩu cao.

Bên cạnh đó, sản phẩm của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường khó tính Australia. Theo Báo cáo của Thương vụ VN tại Australia, Australia là một trong những thị trường có quy định về kiểm dịch và vệ sinh an toàn sản phẩm nghiêm ngặt nhất thế giới. Việt Nam nằm trong số 10 nước có số lượng hàng nông nghiệp nhập khẩu vào Australia bị từ chối/đơn vị giá trị nhập khẩu nhiều nhất giai đoạn 2003-2010.

Ngoài ra, Australia có tỷ lệ tần suất sử dụng các biện pháp phi thuế quan (NTM) năm 2015 là 61.8%, cao hơn so với mức TB 43.04% của 75 nước điều tra (WITS, WB, 2015). Những lợi ích từ AANZFTA có thể không bù đắp được các chi phí tăng thêm khi xuất khẩu sang Australia. Theo thống kê, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan AANZFTA của các DN Việt Nam năm 2010: 8.8%; 2011: 15.9%; 2015: 28.1%; 2016: 34%; 2017: 33%.

Xuất khẩu dịch vụ và lao động chưa đáp ứng yêu cầu

Trong 10 năm qua, xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam sang Australia tăng gấp đôi, nhưng giá trị còn rất hạn chế. Hiện Việt Nam đứng thứ 4 trong ASEAN về xuất khẩu dịch vụ sang Australia, trong đó xuất khẩu du lịch tại chỗ là chủ yếu.

Theo bà Phương, nguyên nhân của tình trạng này là do ngành dịch vụ của Việt Nam sức cạnh tranh thấp: dịch vụ chỉ chiếm khoảng 40% tổng GDP, so với TB 50% của các nước đang phát triển, 70% của các nước phát triển. Thị trường dịch vụ chưa thực sự mở cửa. Theo nhiều nghiên cứu mức độ hạn chế về thương mại dịch vụ cao, thì xuất khẩu dịch vụ thấp là do thông tin thị trường, khả năng đáp ứng các quy định nước ngoài hạn chế…

Australia thuộc Top 10 thị trường xuất khẩu lao động lớn nhất của Việt Nam. Nếu như năm 2012, Việt Nam mới xuất được 606 lao động thì đến năm 2015, con số này đã lên đến 1021 lao động. Năm 2016 đạt khoảng 960 lao động. Lao động có tay nghề của Việt Nam nhập cảnh tạm thời vào Australia 2017-2018 đạt khoảng 859 lao động .

Những ngành nghề của lao động Việt Nam làm việc tạm thời tại Australia,(giai đoạn 2017-2018) chủ yếu là nấu ăn; kế toán; quản lý nhà hàng và quán cà phê; Thợ làm bánh; Đầu bếp; giảng viên và trợ giảng đại học; Công nhân thịt lành nghề; Lập trình viên phần mềm và ứng dụng; Quản lý bán lẻ; Quản lý khách sạn và nhà nghỉ.

Lao động Việt Nam sang Australia còn hạn chế là do Australia ngày càng thắt chặt các chính sách về lao động nước ngoài. Từ ngày 18/4/2017, thay đổi thị thực lao động tạm thời mới với nhiều yêu cầu khắt khe hơn. Bên cạnh đó, là sự cạnh tranh khốc liệt với lao động từ các nước khác có trình độ Tiếng Anh, kỹ năng, kinh nghiệm tốt hơn.

Cơ hội thị trường Australia từ CPTPP

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt – Australia trung bình trong 10 năm gần đây chỉ chiếm 1,8% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và chỉ chiếm 1,7% tổng kim ngạch nhập khẩu của Australia.

Cơ hội xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ tăng khi có tới 93% số dòng thuế được xóa bỏ ngay sau khi CPTPP có hiệu lực. Còn lại sẽ xóa bỏ thuế trong vòng 3-4 năm (một số sản phẩm thuộc nhóm nhựa và cao su, dệt may, quần áo và giày dép, sắt thép, linh kiện ô tô, và một số máy móc, đồ nội thất). Duy nhất ô tô đã qua sử dụng sẽ bỏ thuế 5% đánh trên giá trị nhưng giữ thuế 12,000 AUD đánh trên một sản phẩm.

Cụ thể, lộ trình Australia cắt giảm thuế quan cho Việt Nam: Từ 14/1/2019: Cắt giảm thuế quan theo lộ trình năm 2; Từ 1/1/2020 Cắt giảm thuế quan theo lộ trình năm 3; Từ 1/1/2021 Cắt giảm thuế quan theo lộ trình năm 4; Các năm tiếp theo sẽ tiếp tục các lộ trình tuần tự tiếp theo. Australia cũng sẽ xóa bỏ hoàn toàn thuế quan cho Việt Nam (trừ ô tô đã qua sử dụng) từ năm 2021.

Cam kết cắt giảm thuế quan của Australia cho một số sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong CPTPP đối với mặt hàng: rau quả (xóa bỏ thuế quan đối với tất cả các dòng thuế ngay sau khi CPTPP có hiệu lực, trừ duy nhất một sản phẩm (măng tre – mã HS 2005.91.01) sẽ duy trì mức thuế MFN hiện tại 5% đến năm thứ 4 kể từ khi CPTPP có hiệu lực (tức là đến năm 2021) sẽ xóa bỏ thuế; chè, cà phê, Hạt điều, hạt tiêu, đường, sữa, mật ong; Thủy sản ( xóa bỏ thuế quan ngay sau khi CPTPP có hiệu lực; Dệt may, giày dép: Xóa bỏ đa số các dòng thuế ngay sau khi CPTPP có hiệu lực. Các dòng thuế còn lại xóa bỏ thuế quan theo lộ trình tối đa 4 năm. Gỗ và sản phẩm gỗ: xóa bỏ đa số các dòng thuế ngay sau khi CPTPP có hiệu lực. Một số ít các dòng thuế còn lại xóa bỏ thuế quan theo lộ trình 3 hoặc 4 năm.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, vấn đề cản trở các nhà xuất khẩu, nhà đầu tư và người lao động Việt Nam tận dụng CPTPP chính là thiếu thông tin, hướng dẫn về các cam kết FTA nói chung và CPTPP nói riêng.

Bên cạnh đó là việc thiếu nguồn lực để tận dụng cơ hội; khả năng tiếp nhận công nghệ mới của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam xếp thứ 122/144; Mức độ sẵn sàng áp dụng công nghệ mới của Việt Nam đứng thứ 123/144 (UNIDO, 2016) 86.2% doanh nghiệp có máy tính và 85.1% doanh nghiệp có kết nối internet nhưng tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng máy tính và internet để điều hành tác nghiệp chỉ chiếm 36%.Năng suất lao động của Việt Nam thấp so với các nước trong khu vực.

Hiện trạng nguồn cung và sản xuất cũng khó đáp ứng các quy định về quy tắc xuất xứ. Trong một số ngành xuất khẩu, nguồn cung nguyên liệu nội địa mới chỉ đáp ứng được khoảng 10-20% nhu cầu sản xuất của các doanh nghiệp. Công nghiệp phụ trợ hạn chế, cho dù có tới 1,800 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện nhưng chỉ có khoảng 300 doanh nghiệp tham gia được vào mạng lưới cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia.

Để tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường Australia, việc giải quyết các vấn đề cơ bản trên sẽ là điều kiện tiên quyết để giúp các DN Việt Nam có cơ hội nâng cao kim ngạch xuất khẩu hàng hóa một thị trương lớn và giàu tiềm năng Australia.

TS. Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

DNVN cần làm gì để XK vào Australia? Đó là phải xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, cần lựa chọn chiến lược sản phẩm và chiến lược thâm nhập thị trường phù hợp với nhu cầu, tình hình thực tế của thị trường và khả năng của từng DN. Không vội vàng mà cần có quá trình lâu dài: từ giới thiệu sản phẩm, tạo lòng tin, thiết lập quan hệ rồi mới thực hiện giao dịch kinh doanh. Đồng thời phải nghiên cứu đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng; Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu nhằm tăng khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường Australia cũng như tránh các hàng rào kỹ thuật đã có và sẽ có trong tương lai.

Cơ cấu XK của Việt Nam sang Australia khá đơn điệu và chất lượng hàng còn nhiều bất cập khi so sánh với cơ cấu và chất lượng hàng hóa xuất khẩu của các đối thủ cạnh tranh khác như Trung Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a. Nếu muốn trụ vững trên thị trường Australia, các doanh nghiệp Việt Nam phải hướng đến một nền sản xuất sạch hơn, ở đó chất lượng sản phẩm luôn là vấn đề đặt lên hàng đầu chứ không phải là sản lượng và giá cả thấp, hình thành chuỗi liên kết là rất cần thiết.

Ngoài ra, cần chú trọng xây dựng thương hiệu cho hàng XK, đăng ký và bảo vệ thương hiệu hàng XK, đặc biệt, khi hàng XK đã có chỗ đứng trên thị trường, tránh bị mất hay tranh chấp thương hiệu. Cần có hiểu biết về các quy định chất lượng hàng hóa, vệ sinh thực phẩm, an toàn sinh học… thiết lập hệ thống kiểm tra cũng như thường xuyên đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Ông Nguyễn Anh Dương, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Để tăng khả năng xuất khẩu vào thị trường Australia, các DNVN nên tìm hiểu thông tin ở Cổng thông tin trực tuyến của Australia là hình mẫu; AusCham Việt Nam; VCCI; Bộ Công Thương và mạng lưới thương vụ; Văn phòng SPS và Văn phòng TBT…

Australia và Việt Nam không chỉ chung CPTPP mà còn có các FT A khác. Bởi vậy, cần nâng cao năng lực cho doanh nghiệp (Chương hợp tác và nâng cao năng lực trong CPTPP, cho cả lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, thích ứng với các quy định và “văn hóa” của Australia; Thúc đẩy giáo dục, văn hóa và bình đẳng giới…

Tất cả chỉ là “có thể”, tất cả chỉ là “tiềm năng”, tất cả chỉ là “cơ hội” … nếu thiếu năng lực thể chế và năng lực của doanh nghiệp nhằm tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và CPTPP nói riêng. Đặc biệt, cần nhìn nhận vai trò quan trọng của các Hiệp hội/ngành hàng. Các Hiệp hội ngành ngàng cần phát huy vai trò là đầu mối cung cấp thông tin, kết nối doanh nghiệp; đầu mối tham vấn DN; rà soát, khuyến nghị điều chỉnh chính sách.

Đối với các chính sách, chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, cần triển khai có chất lượng hoạt động phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn DN; chủ động đề xuất những vướng mắc của cộng đồng DN, chính sách hỗ trợ DN; vận động chính sách và hành động cùng cơ quan chính phủ để tiếp thị hàng Việt sang Australia.

Quỳnh Anh

Sự kiện sắp tới

Triển lãm công nghiệp ô tô - Automechanika Hochiminh 2022 đã trở lại

29/06/2022 - 01/07/2022

Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn - SECC (799 Nguyễn Văn Linh, quận 7, TP.HCM)

VIFA EXPO 2022: Bệ phóng đưa ngành gỗ và nội thất Việt quay lại chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch

31/8- 3/9/2022

Trung tâm Hội chợ Triển lãm Sài Gòn (SECC) – 799 Nguyễn Văn Linh, Quận 7, TP.HCM