15:11:03 | 20/5/2011
Sau 4 năm gia nhập WTO nền kinh tế VN đạt được tốc độ tăng trưởng lần lượt là 8,46%, 6,18%, 5,32% và 6,78%. Như vậy, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 7% và bình quân 4 năm sau khi gia nhập WTO (2007-2010) là 6,68%. Đây là tốc độ tăng trưởng được các chuyên gia và Tổ chức quốc tế đánh giá là cao và là thành tựu hết sức to lớn nếu xét trong điều kiện rất khó khăn (thiên tai, dịch bệnh, biến động kinh tế vĩ mô trong nước, sự biến động giá cả thế giới và khủng hoảng kinh tế toàn cầu…). GDP bình quân đầu người năm 2010 của VN đã được nâng cao lên mức 1170 USD. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia kinh tế, cái giá mà VN phải trả để đạt mức tăng trưởng cao là khá lớn.
![]() |
|
Hình minh họa - nguồn Internet |
Chất lượng tăng trưởng thấp
Theo GS.TS Đặng Đình Đào, ĐH Kinh tế quốc dân, sau 4 năm gia nhập WTO với mức tăng trưởng trên, VN đã phải trả giá quá cao, bởi vì để đạt được được mức tăng trưởng đó, tổng đầu tư cho phát triển luôn ở mức trên 42%, gấp đôi so với các nước khác, tỷ lệ lạm phát ở mức 2 con số, nhập siêu cao… Điều này chứng tỏ chất lượng tăng trưởng của VN còn thấp, thua xa so với các nước trong khu vực và suy giảm cả tăng trưởng về lượng.
Ông Đào phân tích, chất lượng tăng trưởng là một trong những điểm yếu cơ bản của nền kinh tế VN nhiều năm nay và 4 năm vừa qua vẫn chưa được cải thiện. Chất lượng tăng trưởng thường do tác động của hiệu quả đầu tư và năng suất lao động. Hai điểm này đang là vấn đề yếu kém của kinh tế VN. Chất lượng tăng trưởng thấp không những làm hạn chế, kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn làm giảm năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong đó, huy động vốn đầu tư thời gian qua tuy đạt khá nhưng đầu tư kém hiệu quả, chất lượng đầu tư thấp, đặc biệt là khu vực nhà nước đang là những vấn đề cần được giải quyết quyết liệt và có trách nhiệm. Vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư được đánh giá là thấp và kém hơn rất nhiều các khu vực khác trong nền kinh tế.
Hiệu qủa đầu tư được thể hiện tổng hợp ở hệ số ICOR. Hệ số ICOR được tính bằng cách chia tỷ lệ vốn đầu tư/GDP theo tốc độ tăng GDP. Chỉ tiêu này phản ánh: để GDP tăng 1% thì tỷ lệ vốn đầu tư/GDP là bao nhiêu? Hệ số ICOR càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp; ngược lại, ICOR càng thấp thì hiệu quả đầu tư càng cao. Thực tế, ICOR của VN cao hơn nhiều so với các nước khác. Theo tính toán, ICOR của VN thời kỳ 1991-1980 là 5 lần thì của Đài Loan thời kỳ 1961- 1980 là 2,7 lần, của Hàn Quốc thời kỳ 1961-1980 là 3,0 lần, của Indonexia thời kỳ 1981-1995 là 3,7 lần, của TQ thời kỳ 2001- 2006 là 4,0 lần. Điều này chứng tỏ hiệu quả đầu tư của VN còn thấp hơn của các nước trog khu vực và trên thế giới; do đó sức cạnh tranh của hàng hóa VN yếu hơn các nước trên thế giới.
Đáng chú ý, đầu tư đối với vốn đầu tư khu vực nhà nước thường bị dàn trải, quy hoạch, kế hoạch trong đầu tư còn nhiều bất cập, chi phí giải phóng mặt bằng lớn, thi công quá chậm, kéo dài, tỷ lệ thất thoát lảng phí lại lớn… Chính những điều này là nguyên nhân cội nguồn của tham nhũng và lãng phí kéo dài trong nền kinh tế VN.
Một yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng là năng suất lao động. Ông Đào cho biết, năng suất lao động VN hiện tại còn thấp, đóng góp vào tăng trưởng còn hạn chế. Trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 2 năm đầu gia nhập WTO ( 2007-2008) là tương đối khả quan nhưng năng suất lao động của nền kinh tế vẫn không được cải thiện nhiều thì sự suy giảm và chững lại của tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 và có thể trong một vài năm tới sẽ còn làm chậm hơn nữa tốc độ tăng năng suất lao động VN.
“Trong công nghiệp, ngành khai thác, gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, chưa phát triển được nhiều ngành có giá trị gia tăng lớn và sức cạnh tranh cao. Chi phí trung gian chiếm tỷ trọng cao làm giảm tỷ trọng giá trị gia tăng thêm trong tổng giá trị sản xuất. Các ngành chậm sử dụng công nghệ tiên tiến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao còn rất thấp làm cho trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của VN, tỷ trọng giá trị gia tăng thêm quá thấp, gia công và xuất khẩu thô là chủ yếu”, ông Đào phân tích.
Cần chính sách đột phá
Theo ông Đào, cái giá phải trả cho tăng trưởng của VN là khá cao. Vì vậy, VN cần có những chính sách đột phá trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội, phải tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, đồng thời phải có những biện pháp cương quyết, thiết lập trật tự, kỷ cương trong sản xuất, kinh doanh và xây dựng thì mới có thể thực hiện được mục tiêu đưa VN trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 như Nghị quyết ĐH Đảng đã đề ra.
Nhiều chuyên gia kinh tế đánh giá, VN cần cơ cấu lại các ngành và các lĩnh vực kinh tế theo hướng chuyển sang mô hình tăng trưởng: chất lượng-hiệu quả-bền vững mà mục tiêu là tái cấu trúc lại nền kinh tế. Muốn vậy, cần phải thực hiện các biện pháp đồng bộ như thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ linh hoạt, điều chỉnh tỷ giá theo hướng thúc đẩy xuất khẩu, giảm nhập siêu, tạo điều kiện cho các DN tiếp cận các nguồn vốn để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; không nên chạy theo mức tăng trưởng cao trong ngắn hạn mà cần đặc biệt chú ý đến chất lượng tăng trưởng và kiềm chế lạm phát hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, VN cần tiếp tục cải cách hành chính triệt để, đổi mới bộ máy hành chính nhà nước, phòng chống tham nhũng hiệu quả và có trách nhiệm. “Điều này đòi hỏi phải đơn giản hóa, rút ngắn thời gian đối với thủ tục hành chính về đầu tư, vay vốn, cấp phép kinh doanh, xuất nhập khẩu, hải quan; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh, phải tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường; thực sự tạo ra bước đột phá về chất trong công tác phòng chống tham nhũng”, ông Đào nói.
Về dài hạn, theo ông Đào, VN cần sớm xây dựng chiến lược xuất khẩu hàng hóa của VN, giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030, trong đó vấn đề cốt lõi là phải chuyển dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo hướng tập trung các mặt hàng có tiềm năng, lợi thế, các mặt hàng có hàm lượng trí tuệ và hàm lượng công nghệ mang lại giá trị gia tăng cao; tăng cường nghiên cứu thị trường nước ngoài và hệ thống pháp luật của các thị trường chủ yếu, đặc biệt là hệ thống rào cản kỹ thuật, coi đây là biện pháp quan trọng giúp các DN VN thúc đẩy xuất khẩu, tận dụng tốt thời cơ khi VN đã bước vào năm thứ 5 là thành viên của WTO.
Cùng với việc đổi mới thể chế, VN cần hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đồng thời có lộ trình, thời gian và biện pháp để chuyển dần từ gia công sang sản xuất, tự xuất khẩu; giảm và tiến tới hạn chế mức thấp nhất xuất khẩu khoáng sản; tăng sản xuất sản phẩm tinh chế, có hàm lượng khoa học-công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao. Đây là biện pháp được coi là mang tính đột phá trong xuất khẩu thời gian tới để sản phẩm VN vươn lên ngang tầm với các nước trong khu vực.
Quỳnh Chi