Công nghiệp chế biến nông sản: “Khoảng trống mênh mông“ cần các định chế tài chính quốc tế giúp sức “lấp đầy“

01:56:47 | 9/5/2011

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài để nhanh chóng phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản tại Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng khi mà công nghiệp chế biến nông sản đang quá tụt hậu so với sản xuất nông sản nguyên liệu, cùng với việc xuất khẩu nông sản thô với khối lượng rất lớn trong rất nhiều năm


Sản phẩm nông sản chế biến - nguồn Internet

Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp và gắn liền với nó là xuất khẩu hàng nông sản trong 25 năm đổi mới của Việt Nam là hết sức to lớn và rất đáng tự hào. Tuy nhiên, do rất nhiều nguyên nhân, hiệu quả của nó là không tương xứng, nếu như không muốn nói là vẫn còn rất thấp. Trong đó, nguyên nhân quan trọng hàng đầu chắc chắn là vốn đầu tư cho lĩnh vực này vẫn còn quá khiêm tốn, trong khi tiền đề để bảo đảm đầu tư có hiệu quả có lẽ là khó có thể thuận lợi hơn. Do vậy, tăng tốc đầu tư cho lĩnh vực này là hướng phát triển quan trọng, bởi hiệu quả hiệu quả “kép” đặc biệt của nó trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm tới.

Trước hết, các số liệu thống kê quốc tế trong gần nửa thế kỷ gần đây cho thấy, tuy cũng thăng trầm, nhưng diện tích đất nông nghiệp của Việt nam vẫn tăng và đạt kỷ lục 6,649 triệu ha ở thời điểm năm 2001, nhưng trong mấy năm gần đây chỉ còn dao động xung quanh mức 6,35 triệu ha. Trong khi đó, tổng diện tích các loại cây, bao gồm cây hàng năm và cây lâu năm, hầu như vẫn tăng, nhưng nhịp tăng càng ngày càng chậm lại và năm 2009 đã đạt kỷ lục 13,949 triệu ha.

Thực tế đó có nghĩa là, tiềm năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp hầu như không còn, trong khi diện tích đất nông nghiệp buộc phải chuyển qua các mục đích sử dụng khác lại tăng lên, còn khả năng quay vòng sử dụng đất có lẽ cũng đã được khai thác gần như triệt để. Do vậy, phát triển nông nghiệp theo chiều rộng trong những năm tới là điều hầu như không thể.

Khẳng định vị thế xuất khẩu nông sản

Chính do hầu như đã tận khai được tiềm năng đất đai, Việt nam đã cung cấp cho thị trường thế giới những khối lượng hàng nông sản rất “đáng nể”.

Trước hết, ở mặt hàng gạo, nông sản chiến lược nuôi sống hơn một nửa dân số thế giới, chỉ sau sáu năm đột ngột xuất hiện trên thị trường thế giới với tư cách nhà xuất khẩu gạo lớn, với gần 2 triệu tấn năm 1995, Việt nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu lớn thứ tư thế giới và ngay trong năm 1996, với trên 3 triệu tấn, trở thành cường quốc xuất khẩu gạo thứ hai thế giới, còn với 6 triệu tấn và 6,7 triệu tấn trong hai năm gần đây, tỷ trọng của Việt nam trong “rổ gạo xuất khẩu” thế giới đã lên tới trên dưới 21%.

Mặc dù vậy, nếu chỉ xét đơn thuần tỷ trọng về lượng trong “rổ hàng hóa xuất khẩu” của thế giới, những kết quả xuất khẩu hồ tiêu và hạt điều nhân còn đáng nể hơn nhiều. Bởi lẽ, với việc tăng tốc rất nhanh và đạt 57 nghìn tấn năm 2001, Việt nam đã không chỉ trở thành cường quốc xuất khẩu hạt tiêu số 1 thế giới, mà còn không có đối thủ cạnh tranh do vẫn tiếp tục tăng tốc, hiện chiếm trên dưới 1/3 tổng khối lượng xuất khẩu ở mặt hàng này của thế giới.

Bên cạnh đó, do khởi động muộn hơn khá nhiều, nhưng cũng tăng tốc rất nhanh, với 128 nghìn tấn hạt điều nhân xuất khẩu năm 2006, Việt nam cũng đã giành vị trí quốc gia xuất khẩu số 1 thế giới do Ấn độ chiếm giữ trong suốt gần một nửa thế kỷ trước đó.

Ngoài ra, cũng không thể không kể đến vị trí thứ hai thế giới của Việt nam trong xuất khẩu cà phê từ năm 2000, cũng như những khối lượng chè, cao su… rất lớn hàng năm Việt nam xuất khẩu ra thị trường thế giới.

Mặt trái của “tấm huy chương”

Tuy đã đạt được những kết quả hết sức khả quan nhưng cũng không thể không bỏ qua mặt trái của “tấm huy chương” xuất khẩu hàng nông sản của Việt nam vẫn còn tồn tại từ rất nhiều năm qua.

Trước hết, điều dễ nhận thấy nhất trong “rổ hàng nông sản xuất khẩu” chính là tình trạng xuất khẩu nông sản thô vẫn còn rất phổ biến. Bởi lẽ, trong một loạt mặt hàng nông sản xuất khẩu với quy mô rất lớn đó, ngoại trừ điều nhân là mặt hàng chế biến, còn lại hoặc chủ yếu vẫn là xuất thô, điển hình là cao su, cà phê, chè…, hoặc là chỉ là hàng sơ chế, điển hình là cao su, hồ tiêu…, hoặc là chủng loại mặt hàng xuất khẩu vẫn còn rất nghèo nàn, không thương hiệu, điển hình là mặt hàng nông sản chiến lược gạo v.v…

Cũng chính vì vậy và còn do những nguyên nhân khác, yếu kém rất nghiêm trọng và phổ biến của hàng nông sản của Việt nam là giá xuất khẩu quá thấp so với giá bình quân của thế giới.

Đó là, có lẽ trừ mặt hàng điều nhân là loại nông sản chế biến hiếm hoi gần đạt mức giá bình quân của thế giới trong nhiều năm gần đây, tình trạng phổ biến là giá xuất khẩu các loại nông sản thô của Việt nam quá thấp.

Chẳng hạn, điển hình nhất có lẽ là giá xuất khẩu của hai mặt hàng cà phê và chè. Trong đó, tính bình quân trong 10 năm trở lại đây, đáng buồn nhất là giá cà phê xuất khẩu của Việt nam chỉ bằng 51,5% giá bình quân của thế giới, còn với 52,8%, tỷ lệ này của mặt hàng chè có nhỉnh hơn. Tuy nhiên, trên thực tế 10 năm trở lại đây, do giá cà phê của Việt nam nói chung đã nhích lên, còn giá chè thì vẫn tụt dốc và hiện đang ở mức đáy chỉ với 45%, cho nên giá chè chính là vấn đề nhức nhối nhất.

Giá chè xuất khẩu của một số quốc gia so với giá bình quân thế giới (%)

Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, nền nông nghiệp Việt nam đã đồng thời tạo ra hai tiền đề cơ bản nhất cho công nghiệp chế biến nông sản phát triển. Đó là nguồn nông sản nguyên liệu không hề nhỏ, hết sức ổn định và giá của các nông sản nguyên liệu này lại rất rẻ.

Thế nhưng, nghịch lý chính là ở chỗ, công nghiệp chế biến những nông sản nguyên liệu này hoặc là chưa được chú trọng phát triển, hoặc tuy đã phát triển, nhưng chỉ bảo đảm khâu sơ chế đầu tiên, còn qúa trình chế biến sâu hầu như vẫn là những khoảng trống.

Do vậy, có lẽ là đã đến lúc Việt nam phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này. Bởi lẽ, phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến các nông sản nguyên liệu này sẽ đạt được hiệu quả “kép ba”: tạo không ít công ăn việc làm cho lực lượng lao động rất đông đảo của Việt nam hiện nay; tăng kim ngạch xuất khẩu và giảm tình trạng nhập siêu; và điều có lẽ quan trọng nhất là giúp sản xuất các loại nông sản nguyên liệu này nói riêng và nông nghiệp nói chung của Việt nam phát triển bền vững.

Để thực hiện được điều đó, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để nhanh chóng phát triển các ngành công nghiệp chế biến các nông sản nguyên liệu này chắc chắn là giải pháp giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thực trạng công nghiệp chế biến nông sản quá tụt hậu so với sản xuất nông sản nguyên liệu và việc xuất khẩu nông sản thô với khối lượng rất lớn trong rất nhiều năm đủ chứng tỏ điều đó.

Trong đó, chắc chắn vai trò cầu nối, hỗ trợ, thúc đẩy của các định chế tài chính quốc tế là khâu đặc biệt quan trọng./.

Nguyễn Đình Bích