Hạn chế nguồn lực quản trị tài chính DN: Cần một “công thức hỗn hợp”

12:20:21 | 18/5/2011

Quản trị tài chính doanh nghiệp được ví như bộ não của doanh nghiệp. Sự ổn định của doanh nghiệp có được hay không phụ thuộc phần lớn vào khả năng quản trị tài chính. Tuy nhiên, nguồn lực này tại Việt Nam đang thiếu trầm trọng. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều quản lý doanh nghiệp theo kinh nghiệm là chính mà chưa hiểu rõ hết tầm quan trọng của quản trị tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp.

Ths Hoàng Hữu Phước, Tổng giám đốc công ty Doanh Thương Mỹ Á

Phóng viên Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn Ths Hoàng Hữu Phước, Tổng giám đốc công ty Doanh Thương Mỹ Á về những giải pháp tăng cường nguồn lực quản trị tài chính cho Việt Nam.

Ông đánh giá như thế nào về vai trò của quản trị tài chính trong hoạt động của các doanh nghiệp?

Quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì tài chính doanh nghiệp giữ nhiều vai trò cực kỳ quan trọng quyết định hoạt động kinh doanh hiệu quả, như quản lý nguồn vốn để cung ứng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; bảo toàn vốn, sử dụng vốn hiệu quả, xử lý các vấn đề vay vốn và vốn vay; cũng như tham gia cơ chế quản lý đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự suy thoái toàn cầu đã đặt vai trò quản trị tài chính lên tầm quan trọng mới, không chỉ gói gọn trong quản l‎ý vốn, giải quyết công nợ, đầu tư hiệu quả, quản lý rủi ro theo bài bản thông thường, mà có thêm trọng trách giúp doanh nghiệp đương đầu với các trì trệ kéo dài và bất ổn thường xuyên từ nền kinh tế nói chung của địa phương, khu vực, hay toàn cầu, như sự quản lý rủi ro mang cấp độ chiến lược, định hướng duy trì hoạt động, phát triển kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, v.v.

Tuy nhiên, nguồn lực này tại Việt Nam đang bị thiếu hụt, theo ông nguyên nhân tại sao?

Qua các phương tiện truyền thông đại chúng và các điều nghiên, cho thấy có sự thiếu hụt trầm trọng nguồn lực về quản trị tài chính – ở đây nên gọi chung là cấp CFO. Nếu như sự thiếu hụt này ở các nước đang phát triển khác là lẽ đương nhiên, thì tại Việt Nam đó là hệ quả của nội dung đào tạo thiếu tầm nhìn xa rộng và đột phá kiểu “đi trước đón đầu”, cơ chế tổ chức quản lý kế toán tài chính thời bao cấp không đặt ra các yêu cầu cao về trình độ quản trị tài chính, cách tổ chức công ty ngoài quốc doanh đa số dành chức danh cao cho thân nhân của doanh chủ, và sự thụ động của bản thân người lao động từ hệ lụy của việc tập trung vào các trường đại học theo đuổi các ngành “bầy đoàn” thời thượng từng thời điểm (chẳng hạn như Công Nghệ Thông Tin, Du Lịch, Thị Trường Chứng Khoán, và Kiểm Toán) hay những ngành chung chung (như Ngoại Ngữ, Đông Nam Á Học, và Quản Trị Kinh Doanh). Vì vậy, cùng với sự gia tăng nhu cầu ở khu vực công ty nước ngoài về quản trị tài chính là sự bất khả trong cung ứng lao động cao cấp từ nội bộ Việt Nam. Có thể nhu cầu lớn và đặc thù này tạo sự quan tâm nơi sinh viên Việt Nam nên ngày càng có thêm những người có học vị cao hoặc chứng chỉ chuyên ngành của nước ngoài về tài chính, ngân hàng, song tất cả vẫn vướng căn bệnh trầm kha: ít người có kinh nghiệm thực tế công tác nhiều năm và công tác giỏi ở những ngành họ có học vị, dẫn đến khả năng hoặc họ khó đáp ứng nhu cầu tuyển dụng ngay từ đầu qua các cuộc phỏng vấn sát hạch hoặc không trụ được lâu ở doanh nghiệp sau tuyển dụng. Điểm mấu chốt ở đây mang tính tâm lý và văn hóa là người Việt nhắm đến một môn học là để đạt vị trí cao, chẳng hạn học quản trị kinh doanh để làm giám đốc CEO, học quản trị tài chính cũng để làm CFO, thay vì học do có năng khiếu và học để thành chuyên gia lão luyện, tức là bước đầu tiên để tiến lên vị trí lãnh đạo. Suy nghĩ thực dụng nhưng không theo trình tự chuyên nghiệp như vậy khiến thị trường lao động VN lâm vào tình thế lưỡng đầu thọ địch: hoặc không có nhân lực có qua đào tạo bài bản để cung ứng, hoặc có nhân lực có học vị nhưng lại chưa có kinh nghiệm làm việc.

Với kinh nghiệm và kiến thức của một nhà quản lý doanh nghiệp có học vị Thạc sĩ kinh doanh quốc tế, ông có thể đề xuất giải pháp cho vấn đề hạn chế nguồn nhân lực quản trị tài chính tại Việt Nam?

Chương trình thạc sĩ kinh doanh quốc tế (MIB) tương tự như chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA) nhưng khác ở chỗ MIB chú trọng đến hoạch định chiến lược cho các hoạt động kinh doanh trên bình diện quốc tế, bao gồm marketing quốc tế, tài chính ngân hàng quốc tế, hoạch định chiến lược quốc tế, luật kinh doanh quốc tế, quản trị kinh doanh toàn cầu, và quản trị nguồn nhân lực quốc tế.

Do mỗi nước có một môi trường kinh doanh đặc thù, dựa trên kiến thức cũng như kinh nghiệm quản trị kinh doanh thực tế nhiều năm, theo tôi Việt Nam cần pha có một công thức riêng: Tùy biến =Thích nghi+Linh hoạt+chủ động ứng phó với các bất thường chưa tính đến hoặc ngòai dự đóan+tầm nhìn đúng.

VN cần có giải pháp tùy biến đối phó vấn đề hạn chế nguồn nhân lực quản trị tài chính; tăng cường năng lực cạnh tranh trong quản trị kinh doanh của các cấp lãnh đạo doanh nghiệp thông qua các biện pháp đào tạo bài bản về kiến thức quản trị tài chính trong môi trường kinh doanh quốc tế, theo đó lãnh đạo doanh nghiệp cần đến chương trình “finance for non-financial managers” tức tài chính không chuyên, còn lãnh đạo tài chính doanh nghiệp phải thoát khỏi chức năng “kế toán trưởng” đơn thuần để thực thi chức năng tương tự của một CFO qua các chương trình như hoạch định chiến lược tài chính, tài chính quốc tế, đầu tư quốc tế, quản lý danh mục đầu tư, thị trường vốn quốc tế, v.v.; ngoài các chương trình khác đào tạo sâu và tăng cường về các kỹ năng quản trị như quản lý sự thay đổi, truyền thông nội bộ, đàm phán, giao tiếp và quan hệ công chúng, hoạch định chiến lược, giao thoa văn hóa, luật kinh doanh, nhân sự, và quản trị rủi ro, v.v.

Ngoài ra, việc thực hiện phân quyền và giao thẩm quyền quyết định cho nhân lực chủ chốt quản trị tài chính của doanh nghiệp tham gia vào quy trình phát triển kinh doanh của doanh nghiệp, thay vì giới hạn chức năng chỉ trong phạm vi kế toán và thủ quỹ vốn không đòi hỏi trình độ quản trị tài chính, và thường được giao cho thân nhân của chủ doanh nghiệp. Kỹ năng quản trị sự thay đổi khi phải đối mặt với những bất tường ngoài dự tính do những tác nhân từ biến động kinh tế khu vực hay toàn cầu, thay đổi chính sách hoặc luật lệ trong hay ngoài nước, và thiên tai, v.v. Đây là khả năng ứng biến xử lý các tình huống liên quan đến hiệu quả kinh doanh, kết quả kinh doanh, nguồn vốn, nguồn vay, và các vấn đề liên quan đến vốn vay hay vốn đầu tư, v.v.

Sức mạnh tiên liệu vốn trước đây ít khi được đề ra như một yêu cầu phải có của người không thuộc lĩnh vực hoạch định kinh doanh và mại vụ – tức sales nói chung. Nhưng khi thế giới tài chính đảo điên với kỳ suy thoái kỳ lạ bất tường và bất thường của những năm cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI này xô ngã không chỉ những tượng đài kỳ vĩ của sức mạnh tư bản mà còn cả những khái niệm, những học thuyết, và lòng tin vững chãi vào thị trường tự do; cộng với dồn dập bao đại họa từ thiên nhiên và từ các cuộc xung đột vũ trang, thì năng lực tiên liệu trở thành cái buộc phải có, thay cho cái nên có, ở lãnh đạo các cấp trong doanh nghiệp, đặc biệt là vị trí một CFO, khi tài chính – như đã nói – giữ vai trò cực kỳ quan trong trong mọi hoạt động nội tại của doanh nghiệp. Sức mạnh tiên liệu nơi một CFO có thể đến từ khả năng thiên phú hoặc do kinh qua môi trường l‎ý tưởng của đào tạo bài bản + thực hành chuyên sâu + thực tế phân quyền + thực thi chiến lược + thực hiện các tùy biến.

Tất cả những điều nêu trên hàm nghĩa rằng để giải quyết sự thiếu hụt nguồn lực giỏi tuyển dụng từ ngoài hoặc nguồn lực nội bộ thiếu năng lực quản trị tài chính, các doanh chủ phải đầu tư nhiều không những cho bản thân có kiến thức về hoạt động và quản trị tài chính mà còn cho nhân lực được chọn lọc của mình đạt trình độ quản trị tài chính phù hợp trong một thị trường kinh doanh đầy rủi ro, lắm biến động, và nhiều tính cạnh tranh cao, tất cả đặt ra yêu cầu lớn hơn – nếu không nói là quá lớn, vượt tầm, và nhiều phá cách hơn là bài bản – cho một CFO hiện đại.

Thu Huyền