06:26:49 | 23/5/2011
“Tỉ lệ lạm phát của Việt Nam cao hơn so với các nền kinh tế ASEAN khác và thuộc hàng cao nhất trên thế giới”. Đó là những chia sẻ của ông John Hendra, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại VN với PV Vietnam Business Forum về các vấn đề phát triển ở VN. Ông sẽ kết thúc nhiệm kỳ công tác trong vài tuần tới tại Việt Nam sau 5 năm gắn bó.
![]() |
| Ông John Hendra, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại VN |
Theo ông John Hendra, giống như nhiều quốc gia Châu Á khác, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với áp lực lạm phát nặng nề hơn so với các khu vực khác trên thế giới. Khu vực này đang rất gần chạm tới mức tăng trưởng quá nóng, và tỉ lệ lạm phát đang leo lên những mức khó có thể hạ xuống được nữa. Giá cả thực phẩm và nhà ở cùng với chi phí giao thông vận tải và năng lượng tăng nhanh là những nhân tố chính gây gia tăng tình trạng lạm phát ở Việt Nam, cũng như ở các quốc gia khác trong khu vực. Giá cả các mặt hàng tiêu dùng chủ đạo cũng tăng rất nhanh. Lạm phát tháng 4/2011 tăng 17,5% so với cùng kỳ- mức cao nhất kể từ tháng 12/2008.
Chính phủ VN ban hành Nghị quyết số 11 là một bước ngoặt không chỉ trong hoạch định chính sách mà còn trong tư duy chính sách. Lần đầu tiên trong vòng nhiều năm qua, tăng trưởng không còn được coi là ưu tiên trước mắt nữa; điều này thể hiện sự đồng thuận ngày càng cao đối với yêu cầu chuyển hướng trọng tâm từ “số lượng” sang “chất lượng” của tăng trưởng và phát triển.
Trong quá trình công tác tại VN, những vấn đề gì mà ông đánh giá là đạt được thành công nhất và còn những thách thức gì?
Vấn đề thành công nhất mà tôi đã làm được trong nhiệm kỳ công tác của mình là đưa vai trò của LHQ song hành cùng Chính phủ VN, định hướng hỗ trợ về mặt chính sách và nhiều vấn đề khác trong tổng thể chung như các vấn đề di cư, bạo lực gia đình, biến đổi khí hậu.. đã khá thành công, đóng góp vào trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội VN.
Chúng tôi cũng đã nêu nhiều ý kiến, phản biện về chính sách với quốc hội VN về phúc lợi, an sinh xã hội, đóng góp vào tăng trưởng GDP đầu người của VN; phát triển kinh tế song hành cùng với việc giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, đẩy mạnh sự tham gia của người dân vào hoạt động xây dựng chính sách.
Tuy nhiên, hiện nay còn 1 số phản biện của LHQ về một số chính sách chưa được thực thi như vấn đề về đầu tư công, bất bình đẳng, cải cách giáo dục, nhất là bậc đại học.
Đặc biệt, trong bối cảnh gia nhập WTO, VN phải giải quyết được tình trạng tham nhũng, bởi tham nhũng là đòn giáng vào người nghèo. Tham nhũng là vấn nạn nhức nhối với nhiều quốc gia, và Việt Nam không phải là ngoại lệ, nhưng tình trạng này đặc biệt đáng báo động trong lĩnh vực giáo dục và y tế bởi nó tác động trực tiếp tới người nghèo - là đối tượng cần được hỗ trợ mạnh mẽ nhất hiện nay.
Để chống tham nhũng hiệu quả, tính nhất quán luôn là điều cần thiết. VN đã có luật chống tham nhũng khá toàn diện, nhưng thực thi luật và chính sách đề ra ở các cơ quan cấp thấp lại chưa nhất quán.
Trong hơn một năm qua, LHQ đã đưa ra và nỗ lực thực hiện sáng kiến “Một Liên hợp quốc”, và Việt Nam cũng có thể thực hiện nỗ lực như vậy- “Một Việt Nam” nhất quán. Những gì đã cải cách, các chính sách cần được thực hiện thì phải nhất quán, không có sự khác biệt, không có riêng cơ chế dành cho địa phương này hay địa phương khác.
Một trong những yêu cầu của Chính phủ trong nghị quyết 11 là “các bộ, cơ quan, địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của những tháng còn lại trong dự toán năm 2011”. Ông đánh giá thế nào về việc này?
Cần làm sáng tỏ quyết định cắt giảm 10% chi tiêu ngân sách thường xuyên sẽ nhằm vào những khu vực hay lĩnh vực nào. Một số chính sách giảm nghèo và trợ cấp xã hội được cấp kinh phí từ chi ngân sách thường xuyên, do đó việc cắt giảm ngân sách dành cho các chính sách này sẽ tác động trực tiếp đến người nghèo. Cần đảm bảo tính hiệu quả lớn hơn của đầu tư công của Nhà nước, và đây cần được coi là một vấn đề ưu tiên trước mắt. Xét ở khía cạnh này, cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc cắt giảm đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, đồng thời hỗ trợ nông nghiệp, xuất khẩu, các ngành công nghiệp hỗ trợ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, là một dấu hiệu tích cực. Tuy nhiên, nếu thực hiện việc cắt giảm - vốn là rất cần thiết - đối với những khoản đầu tư không hiệu quả của Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, chúng ta sẽ phải chứng kiến nhiều công nhân xây dựng bị mất việc làm.
Người nghèo đô thị là đối tượng chịu tác động trực tiếp của lạm phát, đặc biệt là lao động di cư nghèo, cựu công chức đang hưởng lương hưu, và những người có thu nhập thấp. Họ gặp rất nhiều khó khăn trước tình hình giá cả thực phẩm cùng với chi phí điện và nhiên liệu tăng cao. Quyết định cắt giảm dần trợ cấp cho ngành năng lượng tại Nghị quyết 11 sẽ chỉ làm trầm trọng hơn tình trạng này. Đối với người nghèo ở nông thôn, họ cũng chịu ảnh hưởng của giá cả tăng cao. Một số người có thể phải tìm cách kiếm thêm thu nhập để đảm bảo chi phí cơ bản cho thực phẩm. Về lâu dài, lạm phát có khả năng sẽ khiến cho nhiều hộ gia đình quay trở lại tình trạng nghèo. Nếu lạm phát kéo dài và tốc độ tăng trưởng thấp hơn thì Việt Nam cũng sẽ có nhiều khả năng phải đối mặt lần nữa với tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tăng cao như đã từng xảy ra tại cuộc khủng hoảng tài chính gần đây.
Các sáng kiến như trợ cấp cho người nghèo nhằm trang trải chi phí điện sinh hoạt là rất đáng khen ngợi. Tuy nhiên, các sáng kiến này có thể không đến được với những đối tượng cần được hỗ trợ nhất, bởi vì người di cư nghèo không có đăng ký nhân khẩu thường trú, do đó không thuộc diện được hưởng những lợi ích này. Liên Hợp Quốc cũng quan ngại rằng bảo hiểm thất nghiệp có thể không đem lại lợi ích cho những đối tượng cần nhất, giống như khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, các chủ lao động đã không thể trả được trợ cấp thôi việc cho người lao động.
Người ta nói nhiều đến cái “bẫy” thu nhập trung bình mà VN có thể sẽ mắc phải. Theo ông, để tránh điều này, VN cần phải làm gì?
Bẫy thì ở khắp nơi nên chúng ta không nên ảo tưởng hoặc vỡ mộng. Vấn đề quan trọng mà VN cần tránh là trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội cần đẩy mạnh tính ổn định, tập trung vào mô hình tăng trưởng các-bon thấp, có các chính sách bền vững. Trung Quốc 5 năm qua đã tập trung vào tăng trưởng bền vững hơn là đẩy mạnh chi tiêu. VN cần cải thiện những vấn đề về bền vững môi trường, bất bình đẳng trong cái bẫy thu nhập trung bình mà nhiều nước trên thế giới đã mắc phải.
Vì vậy, giải quyết các chính sách kinh tế vĩ mô, giáo dục cho mọi người, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao kịp thời, đúng lúc… hướng tới sử dụng công nghệ mới thân thiện môi trường, đẩy mạnh tầm nhìn dài hạn hơn là tập trung vào ngắn và trung hạn là những yếu tố then chốt để giải quyết vấn đề này.
|
Từ giữa năm 2006, ông John Hendra nhận nhiệm vụ Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam. Trong thời gian công tác tại Việt Nam, ông John Hendra đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện Sáng kiến “Thống nhất hành động” của Việt Nam. Với việc thực hiện 5 Trụ cột: Kế hoạch chung; Ngân sách chung; Lãnh đạo chung; Một bộ quy tắc quản lý chung và Một ngôi nhà chung, Sáng kiến “Thống nhất hành động” tại Việt Nam đã được bạn bè quốc tế đánh giá cao và được cộng đồng các nhà tài trợ hoan nghênh. Trong nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam, ông John Hendra đã cùng với các tổ chức của Liên hợp quốc vận động các nhà tài trợ dành cho Việt Nam khoản viện trợ từ 90-100 triệu USD/năm. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam Võ Hồng Phúc đã quyết định trao tặng Kỷ niệm chương Sáng kiến “Thống nhất hành động” cho ông John Hendra để ghi nhận những đóng góp tích cực của ông trong hoạt động của Liên hợp quốc tại Việt Nam. Sau khi kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam, ông John Hendra sẽ chính thức nhận nhiệm vụ Trợ lý Tổng thư ký, Phó Tổng Giám đốc của UN Women. |
P.V