Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng dài hạn

09:26:59 | 9/9/2011

Đây là một phần nhận định của Báo cáo Đầu tư và Thương mại khu vực năm 2011 do Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) - Liên hợp quốc vừa công bố tại Hà Nội. Tuy nhiên, Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn cho quá trình phát triển, đặc biệt là xuất khẩu.

Theo báo cáo, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam dự báo chỉ đạt 1,4% năm 2011, sau đó tăng lên 8,9% năm 2012, trong khi nhập khẩu dự kiến tăng 4,9% năm 2011 và 7,4% năm 2012. “Trong khi toàn khu vực dự kiến sẽ quay lại mức tăng trưởng thương mại lịch sử 10% vào năm 2011 và 2012 thì tăng trưởng thương mại của Việt Nam sẽ chậm hơn mức trung bình”, báo cáo nhận định.

Việt Nam hiện đứng thứ năm về xuất nhập khẩu hàng hóa và đứng thứ sáu về dịch vụ trong các nước ASEAN. Với thứ hạng trên trong ASEAN, Việt Nam hiện chiếm khoảng 7% hàng hóa xuất khẩu và 9% hàng hóa nhập khẩu; trong khi thị phần dịch vụ thương mại chiếm 3%. Xét trong phạm vi rộng hơn là khu vực châu Á - Thái Bình Dương (CA - TBD), Việt Nam đứng thứ 14 về xuất khẩu hàng hóa, chỉ chiếm 1,3%; và đứng thứ 16 về xuất khẩu dịch vụ thương mại với thị phần dưới 1%. Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP đứng ở mức 61,3% trong năm 2009.

Việt Nam ít phụ thuộc vào xuất khẩu hơn so với Malaysia và Singapore, nhưng lại phụ thuộc vào xuất khẩu nhiều hơn nếu so với các nền kinh tế khác như Indonesia, Philippines và Thái Lan. Báo cáo đưa ra dự báo tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam năm 2012 sẽ ở mức 8,9%.

Theo nhận định của báo cáo, trong thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong đa dạng hóa xuất khẩu. Nếu trước đây, xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU là các động lực chính cho các nền kinh tế khu vực thì xu hướng này đang dần thay đổi với việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ nội khối ngày càng tăng lên. VN cũng vậy, một phần lớn thương mại là giao dịch nội khu vực. Năm 2009, 48% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu của VN là đến các thị trường ở CA - TBD, trong khi nhập khẩu từ khu vực này là 74,5%. So với các nước khác trong khu vực ASEAN, nhập khẩu của Việt Nam từ khu vực này có cao hơn đôi chút.

Báo cáo cũng nhấn mạnh, dựa trên các cấu trúc thương mại trong năm 2008, xuất khẩu của Việt Nam rất phù hợp với nhu cầu nhập khẩu của Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản và Thái Lan. Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam vẫn dưới mức tiềm năng và có thể tăng trưởng mạnh hơn nếu VN có thể đa dạng hóa khả năng để đáp ứng các nhu cầu của khu vực.

Tính đến nay, có tám hiệp định thương mại khu vực mà Việt Nam tham gia đã có hiệu lực. Trong đó, là thành viên của ASEAN, Việt Nam là một bên trong các hiệp định thương mại giữa ASEAN với Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ký hiệp định thương mại song phương với Nhật Bản. Kể từ năm 2005, thời gian cần thiết để hoàn tất các thủ tục thương mại đã giảm được 8,5%, từ 24 ngày năm 2005 xuống còn 22 ngày năm 2010. Trong giai đoạn trên, chi phí thương mại cũng giảm tới 30%.

Trong 5 năm qua, Việt Nam đã thu hút được đáng kể dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với mức tăng trưởng mình quân 22%/năm. Việt Nam hiện đứng thứ 4 trong số các nước ASEAN về thu hút FDI.

Báo cáo cho rằng, những bất ổn kinh tế vĩ mô đang là một thách thức và rủi ro ngắn hạn có thể cản đà tăng trưởng cũng như gây ra quan ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và có tiềm năng lớn về dài hạn.

Theo TS Witada Anukoonwattaka, Phòng Đầu tư và Thương mại thuộc UNESCAP, lạm phát cao làm giảm tiêu dùng cá nhân, làm tăng chi phí sản xuất và tác động tiêu cực đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam. Điều này có thể ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế và niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài.

Đối với khu vực CA - TBD, báo cáo cho rằng, chỉ bằng cách bớt phụ thuộc vào xuất khẩu sang các nền kinh tế phát triển lớn, đồng thời dựa nhiều hơn trên chính nhu cầu nội khối thì các nền kinh tế khu vực CA - TBD mới duy trì được vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế toàn cầu như đang có hiện nay. Báo cáo đánh giá, việc xuất khẩu phục hồi giúp khu vực CA - TBD vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và cho phép khu vực nổi lên như một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, thách thức để giữ được động lực này cũng đang lớn dần xét trong bối cảnh các nền kinh tế phát triển hàng đầu là Mỹ, EU và Nhật Bản (còn gọi là 'Nhóm bộ Ba') có nguy cơ suy giảm kinh tế trong trung và dài hạn. Nhiều khả năng các nền kinh tế đang phát triển tại khu vực - vốn dựa nhiều vào xuất khẩu - sẽ chỉ đạt mức tăng trưởng xuất khẩu ở mức 9% trong năm 2011, giảm mạnh so với mức 17,3% năm 2010. Do đó, điều mà người ta kỳ vọng là các nền kinh tế khu vực sẽ dần bớt phụ thuộc vào cầu tiêu dùng của Nhóm bộ Ba, đồng thời dựa nhiều hơn trên chính nhu cầu nội khối của mình.

Mai Ngọc