Đầu tư công với bài toán quản lý

11:20:40 | 26/8/2011

Theo bản tin về nợ nước ngoài của Việt Nam vừa được Bộ Tài chính công bố mới đây cho biết, tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến cuối năm 2010 đã vượt 32,5 tỷ USD, từ con số gần 27,93 tỷ USD trong năm trước đó. Số liệu trên cho thấy, chỉ trong vòng 1 năm khối nợ nước ngoài của Việt Nam đã tămg thêm tới gần 4,6 tỉ USD. Sự bội chi ngân sách này phần lớn có nguyên nhân do nền kinh tế Việt Nam hiện đang có quá nhiều các dự án đầu tư công tiêu tốn lượng vốn khổng lồ. Nhưng thực tế các dự án này có hoạt động hiệu quả, đem lại nguồn lợi kinh tế không thì lại là một câu chuyện hòan toàn khác.

Lãng phí nguồn lực

Theo Bộ Tài chính thì trong thời gian tới, nếu các dự án đầu tư công vẫn họat động theo cơ chế hiện tại thì việc gánh nặng nợ nần của Việt Nam sẽ tăng lên rất nhanh. Do đó, ngay từ lúc này, việc quản lý nợ công, trong đó đặc biệt là các dự án đầu tư công phải được quản lý chặt chẽ để thực hiện mục tiêu đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và cân đối nền kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đang phải gồng mình chống lại những bất ổn ở nhiều ngành, lĩnh vực then chốt, nếu tình hình vay trả nợ công của Việt Nam phát triển như hiện tại thì đến năm 2015, Việt Nam sẽ phải trả nợ nước ngòai cả gốc lẫn lãi mỗi năm lên đến 1,5 tỷ USD. Đây thực sự sẽ là một gánh nặng cho nền kinh tế.

Theo các chuyên gia kinh tế, nguyên nhân chính dẫn đến việc dư nợ nước ngoài tăng nhanh phần lớn là do số vay nợ ngày càng phình to của các dự án đầu tư công của hầu hết các cấp ban ngành từ trung ương tới địa phương. Mới đây, việc triển khai Nghị quyết 11 của Chính phủ về kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, vấn đề cắt giảm đầu tư công đã được nhắc đến nhiều lần, song việc hạn chế đầu tư công góp phần tái cấu trúc nền kinh tế vẫn chưa chưa có lời giải hợp lý để xử lý tận gốc vấn đề.

Tính đến hiện tại, theo các các chuyên gia kinh tế, hiện tình trạng đầu tư công ở Việt Nam vẫn phát triển theo hướng “phong trào”, “hội chứng đầu tư”, nhiều địa phương vẫn có cách tư duy cục bộ làm giầu cho địa phương mình chứ không tính đến sự quy hoạch tổng thể của cả nền kinh tế bằng cách ngày càng có nhiều các dự án kiểu như: xây dựng nhà máy xi măng, lắp ráp xe máy, hay đầu tư phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế (kinh tế cửa khẩu), trường đại học, thậm chí gần đây là phát triển sân golf, sân bay… Trong số các dự án đã được triển khai này, cũng có một phần vốn do doanh nghiệp đầu tư, nhưng xét về tổng thể nguồn vốn chính vẫn do ngân sách đầu tư công của địa phương và trung ương chi trả. Và nếu có một cơ quan chuyên trách nào thông kê các dự án hiệu quả tới đâu, tình trạng lãng phí ra sao, và các dự án có tác động hạn chế thế nào đến sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô thì bức tranh kinh tế Việt Nam sẽ bộc lộ nhiều mảng tối.

Sự chậm chân của cơ quan quản lý

Theo phân công, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan được Chính phủ giao có nhiệm chính trong việc giám sát cũng như phân bổ nguồn vốn đầu tư, nhưng trên thực tế, việc giám sát và quản lý của Bộ này vẫn còn nhiều hạn chế. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho biết, trong năm 2008, nhờ cắt giảm nên vốn đầu tư của khu vực nhà nước chỉ đạt 184.400 tỉ đồng (giảm 11,4% so với 2007). Thế nhưng, sang các năm tiếp theo thì con số này lại tăng cao trở lại. Năm 2009: 245.000 tỉ đồng (tăng 40,5% so với năm 2008 và là mức tăng cao nhất trong các khu vực kinh tế); năm 2010: 316.300 tỉ đồng (tăng 10% so với năm 2009). Hoặc ngay như bốn tháng đầu năm 2011, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước vẫn tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, đặc biệt, một số địa phương như Khánh Hòa tăng tới 69%, Ninh Thuận: 64%, Đà Nẵng, Thanh Hóa 61%… Theo các chuyên gia của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nếu theo sự phát triển của các con số như trên thì mục tiêu 39.000 tỉ đồng vốn đầu tư của các dự án dự kiến đình hoãn, giãn tiến độ, bằng 11% trong 350.000 tỉ đồng kế hoạch vốn đầu tư phát triển năm 2011, của 22 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước sẽ rất khó thực hiện.

Ngoài việc chậm chân của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc điều hành quản lý lĩnh vực này, có một phần nguyên nhân khác là do hiện ở nhiều địa phương trên cả nước có hiện tượng hình thành nhiều nền kinh tế độc quyền riêng của từng khu vực. Cũng do tư duy này nên nhiều khu kinh tế ở các địa phương hình thành các nhóm độc quyền, đặt lợi ích và ra sức bảo vệ lợi ích của các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh nhà, không tuân theo sự cắt giảm mục tiêu đầu tư công của Trung ương cũng là điều dễ hiểu.

Một khía cạnh khác là một bộ phận các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp lớn vẫn ồ ạt đầu tư mà không cần để ý xem liệu các dự án mình đầu tư có hiệu quả, có tạo động lực phát triển kinh tế vĩ mô trong mối tương quan với nền kinh tế cả nước ra sao. Đơn cử, trong ngành công nghiệp, hiện có tới 13 bộ quản lý, trong khi bộ nào cũng muốn quyền mình là số 1.

Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, hiện vấn đề đầu tư công ở Việt Nam vẫn còn quá dàn trải, thậm chí có hiện tượng nhà nhà đầu tư, người người đầu tư, vẫn còn có sự phân chia lợi ích nhóm của các nhà đầu tư. Theo nhà kinh tế này, các tiêu chí của việc đầu tư cần phải công khai minh bạch. Như về chuyện chủ đầu tư, phải nói rõ ai ký hợp đồng, và người ký hợp đồng ấy có trực tiếp thực hiện hợp đồng hay không hay chuyển nhượng cho người thứ hai, thứ ba nào khác và khi bán lại thì với lý do gì, kèm điều kiện ra sao. Làm rõ như vậy để người dân và cơ quan giám sát biết và tiện cho việc quản lý nếu xẩy ra sự cố. Mặt khác cũng cần quy định rõ ràng, chặt chẽ trách nhiệm của đối với người quyết định đầu tư và người thực hiện đầu tư, tránh tình trạng đổ xổ đi lập dự án, chạy dự án, dễ dẫn đến thất thoát ngân khố Nhà nước, không mang lại hiệu quả đầu tư như muốn./.

Anh Phương