10:56:33 | 23/8/2011
Hiện tại, nhiều doanh nghiệp đầu tư FDI không mấy tự tin khi đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam. Bởi lẽ, nguồn nhân lực và hạ tầng của VN đang còn khoảng cách quá xa so với nhu cầu của họ. Câu hỏi đặt ra là, Việt Nam cần phải có những điều chỉnh kịp thời để đón những làn sóng đầu tư lớn, đặc biệt là làn sóng đầu tư thứ ba từ Nhật Bản.
Nhiều lo ngại
Trong thời gian qua, Việt Nam đã có những chủ trương phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao cũng như định hướng vào việc phát triển các DN vừa và nhỏ của Việt Nam nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm của Việt Nam, hướng tới việc tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm của thế giới, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, trải qua một thời gian thì “hiệu ứng tràn” từ việc thu hút đầu tư nước ngoài đối với phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam lại chẳng là bao. Cơ cấu đầu tư tại khối ngoại gần như “dậm chân” tại chỗ, chủ yếu vẫn tập trung vào lĩnh vực gia công lắp ráp.

Theo ông Vũ Tiến Lộc- Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với những điểm yếu trong việc thu hút vào lĩnh vực gia công lắp ráp. Bởi trong thời gian qua công nghệ lắp ráp đã khiến nhập siêu tăng nhanh, ví dụ, năm 2010, nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc là 12,7 tỷ USD, nhóm hàng hóa phục vụ sản xuất chiếm 55-60%, nhóm máy móc thiết bị chiếm 22-25% đơn cử, một mình ngành dệt may đã phải nhập tới 5,76 tỷ USD nguyên phụ liệu, trong đó giá trị gia tăng tạo được chưa đầy 500 triệu USD.
Trong khi đó, giá trị gia tăng sản xuất trong nước thấp, đào tạo nhân lực và chuyển giao khoa học công nghệ rất hạn chế, chủ yếu là lao động thủ công tay nghề thấp. Trong lĩnh vực này, VN nói khá nhiều nhưng làm được rất ít. - ông Lộc nhấn mạnh.
Đồng quan điểm trên, một số chuyên gia cũng cho rằng, những nhà cung cấp linh kiện phụ tùng cho Việt Nam chủ yếu vẫn là những DN có vốn đầu tư nước ngoài và khoảng cách tiêu chuẩn chất lượng khá lớn giữa các nhà cung cấp linh kiện trong và ngoài nước. Và Việt Nam cũng có rất ít những liên kết công nghiệp hỗ trợ và cơ sở dữ liệu ngành vẫn còn chưa được chú ý, chưa có những cơ sở dữ liệu tin cậy. VN vẫn chưa tạo ra được chuỗi giá trị thông qua việc liên kết doanh nghiệp, kể cả sử dụng những dịch vụ tài chính, phi tài chính để có thể khai thác các lợi thế cạnh tranh phục vụ cho phát triển những ngành công nghiệp này.
Giải pháp nào tháo gỡ?
Theo Thông tư số 96/2011/TT- BTC, kể từ ngày 18/8/2011, các dự án đầu tư đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu. miễn giảm tiền sử dụng đất. Đây được xem như một động lực quan trọng nhất thúc đẩy ngành phát triển.
Ngoài ra, có nhiều chính sách đã được đề ra để thúc đẩy ngành công nghiệp phụ trợ nhưng vẫn chưa đáp ứng được sự phát triển của ngành này. Do đó, theo ông Lộc, việc nghiên cứu chính sách vẫn phải được tiếp tục. Trong đó, những ưu đãi tài chính được xem như một “cú hích” quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một “nút thắt” đầu tiên vừa được “gỡ bỏ” trong rất nhiều nút cản trở khác. Vì vậy, ngoài những yếu tố như miễn hay giảm tiền thuế, tiền sử dụng đất hay dịch vụ khác thì vấn đề nguồn nhân lực và hạ tầng phù hợp cho phát triển công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam cần phải được cải thiện trong thời gian sớm nhất để đáp ứng được các yêu cầu đầu tư của DN nước ngoài.
Hiện tại ở Việt Nam, những khu công nghiệp (KCN) “đúng nghĩa” trong số 260 KCN trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Vì thế, Ông Ichikawa- Trưởng đại diện Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản tại Hà Nội cho rằng, việc đầu tư phát triển các KCN trong mục tiêu thu hút đầu tư của nước ngoài vào các ngành công nghiệp hỗ trợ cần phải tính toán tới nhu cầu của nhà đầu tư. Bởi lẽ, các DN vừa và nhỏ thường có nguồn vốn nhỏ hẹp, nhu cầu về lao động mặt bằng sản xuất không quá lớn, vì vậy, cần phải có những KCN chuyên biệt nhằm phục vụ mục đích phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Không chỉ về hạ tầng cứng mà cả hạ tầng mềm như dịch vụ tư vấn về luật pháp, chính sách ưu đãi hỗ trợ của KCN cũng cần được cân nhắc và hoàn thiện.
Đặc biệt, để “gặt hái” được nhiều thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào lĩnh phát triển công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế tạo, Thứ trưởng Bộ Công thương, ông Trần Tuấn Anh nhấn mạnh: VN cần tập trung nhiều hơn nữa đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, điều kiện hạ tầng phù hợp và phải chú ý phát triển các trường dạy nghề có chất lượng. Đặc biệt, cần phải đào tạo tiếng Nhật cho công nhân. Vì vậy, đào tạo phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cấp thiết nhất. Còn đối với các KCN chế tạo chuyên sâu, cần đảm bảo cung cấp mặt bằng và hạ tầng KCN đạt tiêu chuẩn để tạo cơ chế hút vốn của các DN Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam- Thứ trưởng nói.
Lưu Hiệp