Chống lạm phát: Không nên đi trên con đường “cũ”

15:02:02 | 12/10/2011

Chia sẻ với Tạp chí Vietnam Business Forum, ông Võ Trí Thành- Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương khẳng định, trong công cuộc chống lạm phát hiện nay Việt Nam phải kiên quyết không đi theo con đường tăng trưởng thiếu bền vững như trước. Lưu Hiệp thực hiện.

Có nhiều ý kiến cho rằng, nguyên nhân quan trọng dẫn đến mức lạm phát như hiện nay là việc quản lý thị trường chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, giá cả từ nơi sản xuất đến phân phối trực tiếp cho người tiêu dùng có sự chênh lệch rất lớn, thưa ông?

Vấn đề ở đây là chúng ta phải làm sao để giá phản ánh đúng chi phí. Cần nhìn khâu phân phối ở góc độ là nó sẽ tác động lan tỏa đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Nếu hình thành và phát triển được mạng lưới phân phối hàng hóa để bảo đảm tính liên thông thì sẽ giảm dần các khâu trung gian đẩy giá hàng hóa tăng cao. Trong lĩnh vực này, tôi xin nêu một vấn đề là khi bàn đến việc mở cửa thị trường phân phối, chúng ta không nên chỉ nhìn và lo lắng về việc cạnh tranh giữa trong nước và ngoài nước. Vấn đề này cũng quan trọng nhưng quan trọng hơn là tạo động lực cho sự phát triển nội tại của cả ngành phân phối.

Thưa ông, tình hình lạm phát theo tháng đang có xu hướng giảm và đến tháng 9 xu hướng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cũng trên đà giảm. Như vậy, có thể dự báo lạm phát năm nay quanh ngưỡng 19-20%. Tuy nhiên, nếu đánh giá chung thì kết quả đạt được nêu trên còn mong manh?

Thứ nhất, đây mới là tháng thứ hai liên tiếp có mức tăng CPI dưới 1%, trong khi quán tính của lạm phát, nhất là trong giai đoạn lạm phát cao, sẽ còn kéo dài.

Thứ hai, việc chống lạm phát hiện nay phụ thuộc nhiều hơn vào các vấn đề bên trong. Xác suất để có cú sốc bên ngoài, ví dụ như giá thế giới leo thang, đã nhỏ hơn. Kinh tế thế giới được dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định giá xăng dầu và hàng hóa cơ bản trong năm tới sẽ giảm 1-3 điểm %. Như vậy, có thể áp lực về giá bên ngoài đỡ hơn, nhưng bên trong vẫn còn nhiều vấn đề đáng lưu ý. Ví dụ như chuẩn bị tăng lương. Kinh nghiệm cho thấy việc tăng lương luôn gắn với tâm lý lạm phát kỳ vọng. Hơn nữa, trong những tháng cuối năm, áp lực từ sản xuất kinh doanh cũng như đầu tư công đối với tín dụng rất lớn.

Thứ ba, vẫn còn rập rình vòng xoáy đôla hóa, biến động giá vàng. Dự trữ ngoại hối mỏng, nhập siêu tuy có giảm nhưng vẫn còn cao (chín tháng khoảng 6,84 tỉ USD).

Trong phiên họp Chính phủ thường kỳ mới đây đã “mổ xẻ” khá sâu về lạm phát và đưa ra nhận định nguyên nhân tiền tệ là chính. Quan điểm của ông như thế nào về vấn đề này?

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất ổn định các cân đối vĩ mô và đẩy lạm phát tăng cao thời gian qua nằm ở cơ cấu kinh tế, hiệu quả đầu tư. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, công nghệ lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nguyên nhiên vật liệu bên ngoài. Chính vì vậy, khi giá thế giới lên thì chúng ta bắt buộc phải “nhập khẩu lạm phát”. Ở đây có một hàm ý quan trọng là thông điệp chính sách phải nhất quán. Không thể hôm nay anh nói là ổn định vĩ mô, ngày mai lại nói thúc đẩy tăng trưởng, nới lỏng chính sách...

Nhìn chung, các nghiên cứu xoay quanh chủ đề này mặc dù có những khác biệt nhất định nhưng đều đi đến thống nhất một số vấn đề cơ bản. Trong đó, nguyên nhân hàng đầu của lạm phát trong những năm qua chính là sự “bành trướng” rất nhanh của tổng cầu. Nói một cách nôm na, đó là sự gia tăng quá mức tín dụng và đầu tư. Ví dụ, tốc độ tăng trưởng tiền tệ (M2) là 43,7%, tín dụng là 53,9% vào năm 2007, mức tăng kỷ lục này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức nêu trên lặp lại (tuy tốc độ có thấp hơn năm 2007), dẫn đến lạm phát năm 2010 và 2011 bị đẩy lên cao.

Vấn đề tiếp theo nằm ở tình trạng đôla hóa, vàng hóa. Khi tình hình bất ổn vĩ mô cao thì dễ tạo ra vòng xoáy “dịch chuyển” sang đôla, vàng... làm mất giá đồng tiền Việt Nam.

Vậy, để tiếp tục kiềm chế lạm phát trong năm 2012, theo ông Việt nam cần phải duy trì mức tăng trưởng tín dụng ở con số nào cho hợp lý?

Do một thời kỳ dài có “dễ dãi” tín dụng nên nhiều doanh nghiệp dựa vào vốn vay, không ít DN có tỉ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu rất cao. Vấn đề này chứa đựng nhiều rủi ro, ví dụ một DN không sao nhưng nhiều DN như vậy sẽ tạo ra áp lực để tiếp tục “bành trướng” tín dụng. Dĩ nhiên muốn chống được lạm phát phải “chịu đau”, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Cần thấy rằng nếu để bất ổn vĩ mô trở lại và lạm phát bùng lên cao thì chúng ta sẽ trả giá rất đắt. Đã đến lúc không nên đi lại con đường tăng trưởng trong nhiều năm qua.