10:24:35 | 5/10/2011
Hiện nay, mặt hàng gỗ đang có quy mô buôn bán lớn thứ ba trên thị trường thế giới, chỉ đứng sau dầu lửa và than đá. Sự phát triển của thị trường gỗ thế giới đang mở ra những cơ hội và cả những khó khăn, thách thức đối với ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tôn Quyền Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam xung quanh vấn đề này. Lương Tuấn thực hiện.
Cơ cấu vốn rừng trồng chưa hợp lý
Mặc dù xuất khẩu các sản phẩm gỗ vẫn là một trong những thế mạnh trong cán cân xuất khẩu của Việt Nam trong nhiều năm qua nhưng hiện nay đa số các doanh nghiệp sản xuất đồ mộc xuất khẩu vẫn luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu. Theo ông đâu là nguyên nhân của tình trạng này?
Nguyên nhân chính của tình trạng thiếu gỗ cung cấp cho thị trường là do tỷ lệ gỗ tự nhiên của Việt Nam còn rất ít do lệnh cấm khai thác rừng của Chính phủ. Hiện nay, một năm nhà nước chỉ cho phép khai thác từ 200.000- 300.000 m3 gỗ tự nhiên. Tuy nhiên gỗ rừng trồng của Việt Nam lại đang phát triển mạnh. Theo tính toán của Gỗ và Lâm sản Việt Nam, đến hết năm 2011 Việt Nam sẽ có khoảng 7 triệu m3 gỗ rừng trồng.
Mặc dù khối lượng gỗ rừng trồng đang ngày càng tăng nhưng tỷ lệ gỗ dùng cho sản xuất đồ gỗ lại chiếm tỷ lệ rất ít, khoảng 15- 17%, số còn lại được dùng để sản xuất bột giấy, sản xuất ván nhân tạo và sản xuất dăm giấy. Trong đó tình trạng gỗ rừng trồng được sơ chế thành dăm giấy và bán ra nước ngoài đang trở thành vấn đề đau đầu với những người đứng đầu ngành sản xuất và chế biến gỗ. Hiện khối lượng xuất khẩu của sản phẩm này đã lên tới 3 triệu tấn (tính đến hết tháng 9) tương đương với khoảng 5 triệu m3 gỗ rừng trồng. Với cơ chế giao đất, giao rừng cho dân tự khai thác, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan đã đầu tư tiền cho dân trồng rừng và bao tiêu luôn sản phẩm, khiến cho trong nhiều năm qua, mặc dù diện tích rừng trồng không ngừng được mở rộng nhưng tình trạng thiếu gỗ cho ngành sản xuất đồ mộc trong nước vẫn tiếp tục diễn ra.
Nói như vậy để chúng ta thấy, hiện nay cơ cấu vốn rừng trồng của Việt Nam vẫn chưa thật sự hợp lý và thể chế chính sách cũng chưa khuyến khích việc trồng rừng gỗ lớn phục vụ cho nghề mộc.
Vậy tình trạng nhiều doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ trong nước có đơn hàng nhưng không giám nhận có phải nguyên nhân chính là do thiếu gỗ không thưa ông?
Thực tế đấy cũng không phải là nguyên nhân chính của tình trạng trên. Quý 4 năm 2010 đa số các doanh nghiệp sản xuất gỗ đã ký đầy đủ đơn hàng sản xuất cho năm 2011 với sản lượng tương đương với khoảng 4 tỷ USD, hợp đồng được ký năm 2010 với giá áp dụng cho thời điểm ký hợp đồng là 2010, nhưng bước sang năm 2011 giá tất cả các mặt hàng đều đồng loạt tăng trong khi hợp đồng đã ký khiến cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đứng trước nguy cơ bị lỗ nếu tiếp tục làm theo hợp đồng. Nhưng để giữ được thị phần của mình hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục làm.
Thiếu gỗ cho sản xuất, vậy bài toán nhập khẩu nguyên liệu gỗ đang được Việt Nam thực hiện như thế nào?
Việc nhập khẩu gỗ để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước đã được tiến hành 10 năm nay, mỗi năm bình quân Việt Nam nhập khoảng 4 triệu m3 gỗ và việc nhập khẩu gỗ vẫn sẽ vẫn tiếp tục trong những năm tới.
Nhưng hiện nay việc nhập khẩu gỗ đang đứng trước những thách thức mới, bắt đầu từ năm 2008 khi Mỹ và Châu Âu đưa ra chương trình quản trị rừng bền vững và chúng ta bắt buộc phải tuân thủ theo quy định này nếu muốn xuất khẩu sản phẩm gỗ vào những thị trường này. Bởi theo quy định, khi xuất gỗ vào những thị trường này chúng ta phải chứng minh được xuất xứ của những sản phẩm gỗ này. Như vậy từ nay, đối với tất cả các sản phẩm gỗ nhập khẩu phải có đầy đủ chứng chỉ chứng minh là gỗ hợp pháp. Tuy nhiên, đến nay không phải đất nước nào cũng có đầy đủ bộ chứng chỉ để chứng minh nguồn gốc gỗ, điển hình như Lào, Campuchia, một số nước châu Phi. Yêu cầu trên bắt buộc các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam phải lựa chọn gỗ nhập khẩu mà một khi lựa chọn thì sẽ mất thêm chi phí và giá cả cũng sẽ tăng lên. Ví dụ hiện Việt Nam đang mua gỗ keo của Malaysia, nếu chưa có bộ đầy đủ chứng chỉ chứng nhận gỗ hợp pháp thì mất khoảng 100 USD/m3. Nhưng nếu yêu cầu phải có đầy đủ chứng chỉ thì giá bị đội lên tới 170 USD/m3.
Với những quy định mới, các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ xuất khẩu phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm đồng thời phải liên tục cập nhật yêu cầu mới của thông lệ quốc tế nhằm tránh những thiệt hại không đáng có có thể xảy ra.
Năng lực các doanh nghiệp ngành gỗ còn yếu
Với những yêu cầu như vậy, theo ông hiện nay ở Việt Nam có bao nhiêu doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu đủ sức đáp ứng được những yêu cầu trên của thế giới?
Hiện nay ở Việt Nam chỉ có khoảng 3- 4 doanh nghiệp 100% vốn trong nước có đủ khả năng để đàm phán trực tiếp với các đối tác nước ngoài để cung cấp sản phẩm và đảm bảo được nguồn gốc sản phẩm của mình theo đúng quy định của quốc tế. Còn những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam đáp ứng được điều kiện trên thì có nhiều. Bởi đáp ứng được điều kiện này, doanh nghiệp phải rất thành thạo với luật quốc tế, có kênh phân phối ở các thị trường truyền thống và đủ sức cạnh tranh với các đối thủ khác.
Vậy Việt Nam đã có những biện pháp gì để giúp đỡ các doanh nghiệp ngành gỗ nâng cao sức cạnh tranh của mình để vươn ra thị trường thế giới?
Thực lực của các doanh nghiệp ngành gỗ Việt Nam là rất yếu, đây là nguyên nhân mà chúng ta không thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài. Vì thế để nâng cao tính cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam cần liên kết lại với nhau thành các nghiệp đoàn theo từng vùng. Hiện nay tại TP HCM cũng đã hình thành được một nghiệp đoàn như vậy nhằm tận dụng lợi thế của nhau, biến thành một sức mạnh tập thể. Tôi hy vọng rằng trong 2- 3 năm tới mô hình này sẽ thành công và từ đó sẽ nhân rộng ra khắp cả nước.