10:59:02 | 29/9/2011
Không phủ nhận mặt tích cực của Quỹ Bình ổn giá trong điều kiện kinh tế có nhiều biến động như hiện nay. Nhưng trên thực tế nguồn quỹ này vẫn đang ít nhiều triệt tiêu tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, đã đến lúc Việt Nam cần đánh giá lại tính hiệu quả của Quỹ này và tìm phương thức phù hợp hơn.
Theo ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục quản lý Giá Bộ Tài chính, Quỹ bình ổn giá hiện được trích lập và để lại tại các doanh nghiệp (DN), được hạch toán riêng không qua ngân sách nhà nước.
Chưa phát huy hiệu quả
Quỹ Bình ổn giá được một số ngành, địa phương áp dụng trong những năm qua xuất phát từ mục đích tốt. Theo đó, khi được sử dụng vốn vay với lãi suất ưu đãi (0%) từ Quỹ, DN có khả năng cung cấp một số mặt hàng với giá thấp hơn giá thị trường, tạo đối trọng để hạ nhiệt giá cả hàng hóa. Đơn cử, đối với Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, theo các chuyên gia đã được một số nước trên thế giới như: Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Chile, Mexico sử dụng. Ở Việt Nam, hoạt động của Quỹ đã góp phần nhất định vào việc bình ổn giá thị trường xăng dầu trong một số thời gian nhạy cảm và ở mức cần thiết. Nếu không có quỹ sẽ phải nhiều lần liên tiếp điều chỉnh giá xăng dầu trong nước.
-45.jpg)
Tuy nhiên, sau một thời gian dài thực hiện, hiệu quả của việc sử dụng Quỹ đang là một dấu hỏi lớn, bởi giá cả thị trường hầu như không chịu sự chi phối của hàng được gắn mác bình ổn. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, trong đó, nguyên nhân chính là lượng hàng hóa trong Chương trình Bình ổn giá đã không áp đảo về số lượng. Năm 2011, Hà Nội quyết định dành 400 tỷ đồng cho Quỹ Bình ổn giá của thành phố. So với tổng mức tiêu dùng hàng hóa của Hà Nội khoảng 5.000 tỷ đồng/tháng, con số trên của Quỹ là quá nhỏ. Chính vì lượng vốn nhỏ nên chủng loại mặt hàng trong danh mục bình ổn rất ít. Lượng hàng hóa hạn chế, số DN được tham gia Quỹ cũng không nhiều, mạng lưới bán hàng bình ổn cũng thưa thớt. Mặc dù Hà Nội công bố năm 2011 sẽ có khoảng 400 điểm có bán hàng bình ổn, nhưng phần lớn nằm ở khu vực nội đô, ở các siêu thị. Trong khi đó, tại những vùng nông thôn, các khu công nghiệp có nhiều người nghèo cần được hỗ trợ thì lại chưa tiếp cận được hàng bình ổn…
Theo ông Nguyễn Văn Đồng- quyền Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội thì cơ chế hoạt động hiện hành của quỹ mang đậm tính can thiệp hành chính trực tiếp với thiên hướng mục tiêu thường ngược với xu hướng động thái thị trường thế giới, làm méo mó giá cả thị trường mỗi khi quỹ vận hành, cả lúc trích và xả quỹ. Tình trạng phân tán quỹ, để ở nhiều doanh nghiệp, cũng làm phát sinh các chi phí quản lý của cả DN cũng như của cơ quan chức năng.
Đánh giá về Quỹ bình ổn giá xăng dầu Tiến sĩ. Nguyễn Minh Phong- Viện nghiên cứu Phát triển KT- XH Hà Nội cho biết, hoạt động trích lập quỹ qua giá xăng dầu khiến người tiêu dùng chịu thiệt nhiều hơn lợi. Nói cách khác, thực chất người tiêu dùng đã phải mua đắt giá xăng cho thời điểm trích lập quỹ, để rồi được trả lại số tiền đó nhờ mua xăng dầu với giá “rẻ” hơn khi “xả” quỹ. Cảnh “mượn đầu heo nấu cháo” này khiến người tiêu dùng luôn chịu thiệt thòi do phải tạm ứng nguồn vốn hoạt động cho quỹ như kiểu “cho vay không lãi”. Rốt cục, dường như chỉ có DN kinh doanh xăng dầu là đảm bảo được lợi ích- ông Phong nói.
Như vậy, những hạn chế trên đã khiến hiệu quả của công tác bình ổn giá không được như kỳ vọng. Trong khi đó, việc áp dụng Chương trình Bình ổn giá lại gây ra những hệ lụy không mong muốn lên thị trường. Tại Hà Nội, các DN tham gia Chương trình Bình ổn giá đã không phải thông qua đấu thầu khi mua hàng phục vụ chương trình này. Điều này đã làm giảm cơ hội tìm được nguồn hàng tốt và cũng không tạo ra được giá tốt nhất cho sản phẩm. Việc không sử dụng cơ chế đấu thầu khiến mục tiêu cạnh tranh giữa các DN trên thị trường bị triệt tiêu. Không những thế, Chương trình Bình giá có thể còn tạo ra cơ chế xin - cho, bởi DN tìm cách để được sử dụng nguồn vốn vay lãi suất ưu đãi trong bối cảnh lãi suất vay còn ở mức cao như hiện nay.
Hệ lụy tiếp theo là chương trình này tạo ra “cơ chế hai giá“ trên thị trường: tiểu thương vào các điểm bán hàng bình ổn để vét hàng, trong khi người nghèo lại không mua được hàng giá rẻ. Một câu hỏi mà dư luận hiện cũng rất quan tâm là liệu bản thân DN tham gia Chương trình Bình ổn giá có tuồn hàng ra ngoài để hưởng chênh lệch?
Ở đây còn một thực tế nữa là sau khi đã đăng ký giá với Sở Công thương địa phương, DN tham gia bình ổn giá lại phải xin điều chỉnh giá bán ra bởi lý do… giá thị trường đã tăng quá cao.
Doanh nghiệp phải có nhu cầu thực
Đã có nhiều chuyên gia thương mại kiến nghị, việc nghiên cứu giải pháp bình ổn thị trường là rất cần thiết, song, đã đến lúc cần xem xét lại phương pháp thực hiện bình ổn như hiện nay.
Về ngắn hạn, theo các chuyên gia nếu các cơ quan quản lý muốn thông qua Chính sách Bình ổn giá để hỗ trợ người nghèo thì có thể nghiên cứu việc phát phiếu mua hàng bình ổn giá cho đối tượng này. Người sử dụng những phiếu này khi mua hàng sẽ được trừ trực tiếp vào giá sản phẩm. Những DN nào khi thu phiếu này lại sẽ hạch toán với cơ quan quản lý. Cách làm trên sẽ bắt buộc các siêu thị, các nhà phân phối phải cạnh tranh về giá để thu hút người tiêu dùng.
Một giải pháp khác là chuyển thẳng tiền từ Quỹ Bình ổn về cho DN sản xuất. Theo hướng này, có thể chọn một vài sản phẩm (thay vì cả chục sản phẩm như hiện nay) để đầu tư bằng vốn ưu đãi. Nguồn hàng sản xuất ra từ vốn ưu đãi sẽ được quản lý chặt tới tận tay người tiêu dùng, đảm bảo tạo ra đối trọng kéo giá sản phẩm tương ứng trên thị trường xuống.
Về dài hạn, việc bình ổn thị trường cần được thực hiện trên cơ sở thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, giảm thiểu gian lận thương mại… Để làm được như vậy, theo các chuyên gia, cần làm rõ quy định tính lãi gửi đối với tiền gửi của một số nguồn quỹ bình ổn giá tại ngân hàng. Số tiền lãi gửi ngân hàng cũng chưa được tính vào nguồn thu của quỹ. Bởi lẽ, chúng ta hiện còn rất thiếu quy định về chế độ giám sát, kiểm tra đối chiếu, trách nhiệm công khai quỹ. Có thể đổi Quỹ bình ổn hiện nay thành Quỹ An ninh năng lượng quốc gia. Nhưng cần nhấn mạnh, dù là Quỹ bình ổn giá hay Quỹ an ninh năng lượng quốc gia, thì cũng cần bãi bỏ ngay cơ chế quản lý quỹ như hiện nay vì vừa yếu, vừa thiếu năng lực và trách nhiệm về pháp lý. Phải coi đây là quỹ quốc gia và phải được quản lý trực tiếp, tập trung bởi Hội đồng quỹ liên ngành và trực thuộc một cơ quan quản lý nhà nước – Chuyên gia kinh tê ông Trương Đình Tuyển đề xuất.
Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Tất Thắng khẳng định, việc thành lập các quỹ bình ổn phải xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng DN. DN chủ động kết hợp để dành ra khoản tiền, hàng nhất định, dựa trên kết quả kinh doanh ở thời kỳ thuận lợi, sử dụng cho thời điểm kinh doanh kém thuận lợi hơn. Nguồn tiền của quỹ không xuất phát từ ngân sách, không phải vốn tín dụng ưu đãi nhà nước hay của người dân. Và như thế, cũng hình thành quỹ bình ổn, nhưng bản chất khác với các quỹ bình ổn giá hiện nay. Chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của nhà nước. Thế nhưng, nếu có tham gia thì nên tạo ra cơ chế và khuôn khổ pháp lý. Còn việc can thiệp trực tiếp thì chỉ nên thực hiện trong trường hợp đặc biệt như sử dụng nguồn lực dự trữ quốc gia chẳng hạn. Nhưng cần nhấn mạnh rằng chỉ trong trường hợp nào thực sự đặc biệt ở một quãng thời gian nhất định, sau đó phải trả lại theo cung - cầu thị trường.
Lưu Hiệp