Gian nan ngành chăn nuôi

14:53:52 | 13/10/2011

Chưa bao giờ ngành chăn nuôi Việt Nam lại rơi vào hoàn cảnh như hiện nay khi nguy cơ bị thao túng thị trường thức ăn chăn nuôi (TACN) đang hiện hữu.

Nhiều doanh nghiệp trong nước bị phá sản

Ông Lê Bá Lịch - Chủ tịch Hiệp hội TACN Việt Nam cho rằng, hiện tại, đã có trên dưới 20 DN TACN nước ngoài có vốn đầu tư kinh doanh tại VN, chiếm thị phần trong nước tới 70%. 30% thị phần còn lại cũng đang có nguy cơ rơi nốt vào tay doanh nghiêp (DN) nước ngoài. Nguy cơ ngành chăn nuôi Việt Nam trở thành một ngành gia công giá trị thấp đang hiển hiện - ông Lịch nói.

Công bằng mà nói, không thể phủ nhận những đóng góp của các DN nước ngoài trong lĩnh vực TACN. Sự tham gia của các DN nước ngoài đã đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành chăn nuôi công nghiệp Việt Nam. Từ mô hình sản xuất TACN truyền thống nhỏ lẻ, manh mún, và song song với nó là ngành chăn nuôi nhỏ lẻ, lạc hậu; với sự góp mặt của các tập đoàn sản xuất thức ăn gia súc có tiếng trên thế giới như Cargill, CP, Proconco… Việt Nam đã phát triển ngành chăn nuôi công nghiệp. Thực tế thì các nhà sản xuất TACN trong nước cũng có cơ hội phát triển mạnh lên. Tuy vậy, trong ngành kinh doanh được coi là siêu lợi nhuận này đã có khá nhiều DN trong nước phá sản. Theo thống kê của Hiệp hội TACN Việt Nam, trong vòng 5 năm trở lại đây, số lượng DN chế biến TACN “nội” đã giảm một nửa. Riêng quý I/2011, đã có gần 30% các DN chế biến thức ăn cho tôm, cá phải đóng cửa. Một số DN trong nước phá sản đã được các DN nước ngoài mua lại.

Đơn cử, sau sự kiện Công ty C.P Pokphand (CPP, có trụ sở tại Hongkong (Trung Quốc)) mua lại Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P VN, thì tiếp tục có thông tin 2 nhà đầu tư của Nhật Bản là Tập đoàn Sojitz và Cty Kyodo Shiryo (hãng sản xuất thức ăn gia súc hàng đầu của Nhật) sẽ đầu tư 2 tỷ yên xây dựng nhà máy chế biến thức ăn gia súc ở VN, với mục tiêu chiếm 10% thị phần thị trường thức ăn gia súc Việt Nam vào năm 2020.

Yếu tố nào hấp dẫn doanh nghiệp ngoại?

Điều hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài trước hết là tiềm năng về thị trường. Nhu cầu thức ăn chăn nuôi ở VN ước tính mỗi năm cần khoảng từ 25-30 triệu tấn. Thực tế các nhà sản xuất mới chỉ đáp ứng được khoảng 11-12 triệu tấn. Thứ hai, về tín dụng, trong khi DN nước ngoài có lợi thế được vay bằng ngoại tệ, vay vốn không phải thế chấp, được Cty mẹ ở nước ngoài hỗ trợ về việc mua nguyên liệu giá thấp và được trả chậm… thì DN trong nước vẫn phải vay vốn với lãi suất cao.

Thứ ba, theo các chuyên gia trong ngành, nhiều Công ty nước ngoài đang trốn thuế một cách hợp pháp bằng cách ký hợp đồng gia công với các trang trại chăn nuôi. Vì vậy, các DN này không phải nộp thuế giá trị gia tăng và tiền thuê đất. Thực tế này khiến các lợi thế “nằm trọn” trong tay các DN nước ngoài.

Với lợi thế về vốn liếng, công nghệ, năng lực quản lý vượt trội, nhiều DN nước ngoài còn chủ động được nguồn giống đang tạo nên vòng tròn khép kín trong chăn nuôi.

Cần lập lại thế cân bằng

Nhìn vào ngắn hạn thì người chăn nuôi có lợi vì yên tâm đầu tư sản xuất khi chủ động được con giống, thức ăn, thậm chí cả đầu ra của sản phẩm. Tuy nhiên về dài hạn, vấn với phương thức này, các DN sẽ dần dần khống chế thị trường, thao túng giá cả. Nhiều năm nay, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng. Năm 2011, mặt bằng giá đã tăng từ 30 - 40% so với cùng kỳ năm ngoái. Sự tăng giá của TACN và con giống “nuốt” dần lợi nhuận của người chăn nuôi, biến họ từ ông chủ trở thành lệ thuộc, buộc phải làm theo kiểu gia công giá rẻ cho các DN.

Dưới góc độ chuyên gia, ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn cho biết, một đất nước nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn, vậy mà thị trường chăn nuôi chưa được điều tiết tốt, để các DN nước ngoài chi phối là điều không bình thường. Một nghịch lý là trong nước chưa chủ động được nguyên liệu chế biến TACN, mà phải nhập khẩu tới 70%; trong đó: ngô là loại nông sản dễ trồng thì VN cũng phải nhập đến 50%, đậu tương, khô dầu đậu tương, lúa mì nhập 90 - 95%; còn các chất khoáng, vitamin, tạo mùi... nhập khẩu 100%.

Như vậy, một ngành kinh tế bị lệ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nước ngoài và DN nước ngoài thì khó có thể nói đến sự tự chủ hay phân chia lợi nhuận trong chuỗi giá trị sản xuất một cách công bằng - ông Tuấn nhận định.

Thiết nghĩ, trách nhiệm lập lại sự cân bằng trong ngành chăn nuôi, ngoài sự cố gắng của các DN trong nước, rõ ràng còn thuộc về những người làm chính sách. Nếu không có những hành động kịp thời thì 30% thị phần còn lại của ngành chăn nuôi e rằng các nhà sản xuất trong nước khó mà giữ lại được.

Thanh Yên