09:10:52 | 25/3/2010
Thực tiễn cho thấy, không hẳn doanh nghiệp nào cũng có cách ứng phó tốt khi bị xâm hại quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), cách tốt nhất là các doanh nghiệp nên tìm đến các công ty luật chuyên ngành SHTT để có cách xử lý tốt và hiệu quả.
Theo các chuyên gia tư pháp, SHTT cũng được coi như một loại tài sản vật chất (đặc biệt), theo đó một trong những quyền quan trọng của nó là quyền chiếm hữu và sử dụng của chủ tài sản SHTT bằng cách ngăn cấm người khác sử dụng. Nếu xét thấy có dấu hiệu vi phạm quyền này, doanh nghiệp cần thông báo đến người có hành vi xâm phạm và buộc bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu tòa án hay cơ quan có thẩm quyền xử lý (theo luật SHTT sửa đổi 2009).
Theo thống kê của các cơ quan chức năng, việc xử lý nhiều vụ xâm phạm quyền SHTT dây dưa, kéo dài; nguyên nhân là do thiếu cơ sở pháp lý, chứng cứ không đầy đủ rõ ràng. Một nguyên nhân quan trọng khác là hiện tại nhiều doanh nghiệp chưa nắm rõ được các quy định trình tự pháp luật trong việc đề nghị xử lý hay khởi kiện xâm phạm quyền SHTT.
Trước hết, ở khâu thụ lý hồ sơ, khi gửi đơn doanh nghiệp nhất thiết phải gửi kèm theo tài liệu chứng minh mình là chủ thể hợp pháp quyền SHTT. Cụ thể là, nếu là sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý thì các tài liệu chứng minh chủ thể quyền bao gồm bản gốc văn bằng bảo hộ đang có hiệu lực (nếu là bản sao thì phải có công chứng, chứng thực) hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia các đối tượng trên (được lưu giữ tại Cục SHTT). Nếu nhãn hiệu đăng ký quốc tế thì tài liệu chứng minh chủ thể quyền là bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam hoặc các bản sao công báo của WIPO, Giấy chứng nhận đăng ký quốc tế, Công báo SHTT của Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp có được các đối tượng trên thông qua chuyển nhượng (mua, bán) quyền sở hữu, thì phải có hợp đồng chuyển nhượng được đăng ký tại Cục SHTT. Vì các đối tượng trên đây quyền chỉ phát sinh khi được cấp văn bằng bảo hộ. Do vậy, nếu không có các tài liệu trên đây để chứng minh doanh nghiệp là chủ thể quyền thì việc nộp đơn yêu cầu xử lý xâm phạm trở nên vô nghĩa.
Riêng với đối tượng là tên thương mại và bí mật kinh doanh, căn cứ xác lập quyền không phải là các văn bằng bảo hộ, nên tài liệu chứng minh chủ thể quyền là do doanh nghiệp tự lập nên. Tức là, doanh nghiệp phải lập hồ sơ mô tả nội dung (cấu trúc) của tên thương mại, hình thức sử dụng và quá trình sử dụng tên thương mại đó.
Bên cạnh các tài liệu chứng minh là chủ thể quyền, doanh nghiệp phải có các chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm quyền gửi kèm theo đơn đề nghị xử lý xâm phạm quyền SHTT. Các cơ quan có thẩm quyền hay tòa án không có trách nhiệm phải tìm các chứng cứ, mà đó là nghĩa vụ của doanh nghiệp. Các chứng cứ chứng minh xâm phạm quyền SHTT thường là các vật mẫu, hiện vật có liên quan, ảnh chụp, bản ghi hình sản phẩm bị nghi ngờ xâm phạm; Bản giải trình hay so sánh giữa đối tượng bị nghi ngờ và đối tượng được bảo hộ... các tài liệu trên phải được lập thành danh mục và đảm bảo có tính pháp lý trung thực.
VBF