11:06:02 | 6/1/2012
Khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện chiếm 70% dân số, 57% lao động và đang đóp góp 20% GDP. Bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế hiện nay đang đặt ra cho chiến lược Tam nông tại Việt Nam những thách thức mới.
Ruộng vẫn chưa thể nuôi người
Một thống kê từ năm 2008 được Cục Hợp tác xã Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra cho thấy: thu nhập bình quân đầu người nông dân trồng lúa sau khi trừ các khoản chi phí đầu vào còn khoảng 5.500 đồng/người/ngày. Năm 2010 Vẫn đơn vị này, được đổi tên thành Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn tiếp tục đưa ra số liệu thống kê khác: tại khu vực nông nghiệp, kinh tế hộ quy mô nhỏ (36% hộ có dưới 0,2 ha); kinh tế trang trại mới chỉ chiếm 1% tổng số hộ; trên 54% số HTX hoạt động ở mức trung bình và yếu; DN nông nghiệp không đáng kể; đời sống nông thôn ở mức thấp (thu nhập ở nông thôn năm 2008 chỉ bằng 60% bình quân chung của cả nước, tỷ lệ hộ nghèo 16,2%; chênh lệch giàu nghèo cao (13.5 lần).
.jpg)
Nếu cập nhật chuẩn hộ nghèo áp dụng cho Khu vực nông thôn năm 2010 là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng sẽ thấy rõ hơn mức thu nhập thực tế của đa số nông dân Việt Nam. Cũng chính vì những tồn tại lâu dài như vậy về mức sống, mức thu nhập quá thấp của người nông dân so với xã hội mà Đảng, Nhà nước và Chính Phủ Việt nam đã xác định: giải quyết vấn đề tam nông (gồm có nông nghiệp, nông dân và nông thôn) là vấn đề chiến lược, hệ trọng của đất nước. Khi ruộng không thể nuôi nổi người thì có con số trên 30% nông dân dắt nhau ly hương tìm kiếm việc làm để tăng thêm thu nhập cũng là hệ quả tất nhiên.
Theo Giáo sư. Tiến sĩ Tô Duy Hợp, Viện Xã hội học thì có tới 10 vấn đề xã hội bức xúc, nan giải trong quá trình đổi mới nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong 20 năm qua; đó là: Khoảng cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội; tình trạng thiếu việc làm, di dân tự phát, xung đột xã hội gia tăng; dân trí và quan trí thấp; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ yếu kém; đời sống văn hoá có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp; năng lực quản lý xã hội, kết cấu hạ tầng thấp kém; môi trường bị ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động.
Xuất phát điểm thấp
Thực tế là nông dân những vùng núi cao như Hà Giang, Cao bằng vẫn canh tác theo phương thức bê đất bỏ vào từng hốc đá để trồng ngô, còn các xưởng cơ khí vấn phải tiếp tục nghiên cứu để sản xuất ra các phương tiện cơ giới nhỏ (máy gieo hạt, máy cày, bừa…) phù hợp với những mảnh ruộng lớn thì khoảng 1.000 m2 nhỏ thì 360m2 và trên 90% nông sản sản xuất tại Việt Nam vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên.
Ở một khía cạnh khác, phải sau những giải pháp rất quyết liệt của Chính phủ thì tình trạng lấy đất lúa lập khu công nghiệp, làm sân golf hoặc các công trình dịch vụ… mới giảm tốc. Bên cạnh đó, một tình trạng bất hợp lý đã được phát hiện từ nhiều năm trước vấn tồn tại; đó mức đầu tư cho nông nghiệp thấp và quản lý nông nghiệp còn yếu kém. Ông Tăng Minh Lộc, Phó Cục trưởng Cục Hợp tác xã đã viện dẫn một báo cáo của Bộ Tài Chính, cho biết: tổng vốn đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn ước tính chỉ đáp ứng được 17% nhu cầu và chỉ chiếm khoảng 8,7% tổng đầu tư.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí hồi cuối năm 2011, Bộ trưởng bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát nhận xét: Việt nam đã fiair quyết được vấn đề quan trọng là ẩm bảo được an toàn lương thực và phát triển được một số cây trồng và sản phẩm xuất khẩu có chỗ đứng trên thị trường thế giới như cà phê, hạt điều, hạt tiêu, sản phẩm gỗ, cao su... Tuy nhiên, nhìn tổng quát, nền nông nghiệp vẫn có năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp so với nhiều nước trên thế giới. Một số vùng còn kém phát triển, đời sống của bà con nông dân còn gặp rất nhiều khó khăn, có những nơi còn thiếu lương thực, hoặc là có lương thực, nhưng đó là ngô, chứ không phải là gạo; Có nơi thiếu nước sinh hoạt, thiếu các dịch vụ công cộng tối thiểu...
Thực tế là vị thế của nông dân trong tiến trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) mờ nhạt, không nắm được thị trường và luôn chạy theo thị trường. Mức hưởng thụ phúc lợi xã hội quá thấp, với 70% dân số song mới hưởng thụ 25% mức đầu tư về giáo dục và y tế.
Kết quả 3 năm giải quyết vấn đề Tam nông
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn (Nghị quyết số 26-NQ/TW - NQ 26) thực sự là cơ sở cho việc giải quyết vấn đề Tam nông tại Việt nam, kể từ năm 2009. Dự toán ngân sách nhà nước chi cho lĩnh vực này năm 2011 cao gấp hơn 2,2 lần so với năm 2008, tỷ trọng chi cho nông nghiệp – nông thôn so tổng chi ngân sách nhà nước tăng từ 32,8% năm 2008 lên 39,8% năm 2011. Tính chung 3 năm 2009-2011, tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp-nông thôn đạt gần 290.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 52% tổng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ.
Trong Hội nghị tổng kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 26 về Tam nông, bên cạnh số liệu về đầu tư cho nông nghiệp, nông tôn và nông dân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận đinh: 13/14 tiêu chí của NQ 26 đã cơ bản đạt được; Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cả giai đoạn 2006 – 2010 đạt 3,36%/năm, vượt mục tiêu 3,2%/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2010 đạt 19,53 tỷ USD, tăng 3,46 tỷ USD so với năm 2008, vượt 81% so với mục tiêu Đại hội Đảng X đề ra (10,8 tỷ USD); Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển biến tích cực, đến năm 2010, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm xấp xỉ 60% cơ cấu kinh tế của khu vực nông thôn….
Thách thức mới
Bối cảnh quốc tế: toàn cầu hoá, khủng hoảng lương thực thế giới, biến đổi khí hậu, kết quả không được như mong muốn của của vòng đàm phán Đô- ha….cùng với bối cảnh trong nước: công nghiệp hoá ồ ạt, thực hiện các cam kết gia nhập WTO đã tác động mạnh mẽ tới nông nghiệp, nông thôn và nông dân VN và những những thách thức mới tiếp tục xuất hiện. Trước hết đó là sự cạn kiệt về nguồn lực đất đai và sự lạc hậu của nguồn lực lao động so với yêu cầu; chi phí đầu vào của nông nghiệp ngày càng tăng so với giá đầu ra; lợi thế cạnh tranh trong nông nghiệp giảm; Mâu thuẫn giữa yêu cầu về nguồn nhân lực cao với thực tế một bộ phận lớn nông dân không có khả năng thích nghi với điều kiện sản xuất mới; biến đổi khí hậu có khả năng làm giảm sản lượng lương thực, thực phẩm gây nguy cơ đói cục bộ tại một số vùng, làm chậm lại tốc độ giảm nghèo ở những vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng thiên tai lũ lụt, nhóm dân tộc ít người…
Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Huy Ngọ cho rằng con đường giải quyết hiệu quả vấn đề tam nông hiện nay là đối diện với các thách thức và tập trung giải quyết vấn đề có tính đột phá sau: Quy hoạch lại việc sử dụng đất đai; Hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp tăng trưởng theo chiều sâu, coi trọng giá trị cao trên một đơn vị diện tích thay vì chạy theo sản lượng đơn thuần; xác lập rõ ràng chủ thể kinh tế thị trường ở nông thôn; Xây dựng nông thôn mới; Chuyển đổi và phân bổ nguồn nhân lực ở nông thôn; cải thiện chính sách đầu tư theo hướng ưu tiên cho ba lĩnh vực lớn: xây dựng nông thôn mới, hiện đại hóa nông nghiệp và thực hiện công bằng xã hội với nông dân.
Về quan điểm chính thống của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ông Cao Đức Phát cho biết: việc xây dựng các mô hình nông thôn mới thay vì dựa vào nguồn lực từ bên ngoài sẽ phát huy sự sáng tạo, năng lực nội tại của các cộng đồng nông thôn. Bộ sẽ có một gói giải pháp tổng thể, toàn diện lấy người nông dân làm trung tâm, động lực để phát triển, giải quyết vấn đề “tam nông” hiện nay.
Thanh Yên