06:51:14 | 12/4/2012
Thông tin gây chú ý nhiều nhất trong cộng đồng doanh nghiệp và giới tài chính thời điểm này chính là cho phép giãn nợ cho doanh nghiệp.
Ngày 10/4, NHNN ra thông báo về giải pháp điều hành lãi suất và tín dụng trong thời gian tới. Ngoài việc các mức lãi suất chủ chốt tiếp tục được cắt giảm thêm 1%, trần lãi suất huy động đối với kỳ hạn trên 1 tháng xuống 12%, NHNN còn yêu cầu các tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho các khoản vay không trả nợ đúng hạn do tác động của các yếu tố kinh tế trong nước và quốc tế làm cho sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, chậm tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm, ứ đọng tồn kho hàng hóa.

Nhà quản lý yêu cầu các NH chủ động phối hợp với khách hàng vay để tháo gỡ khó khưn trong việc trả nợ, xem xét khả năng cho vay mới với các nhu cầu được đánh giá là hiệu quả vsà bảo đảm khả năng trả nợ. Theo NHNN, hướng gợi mở này nhằm tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn từng bước phục hồi, duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, bảo đảm khả năng trả nợ, giảm nợ xấu.
Thông tin này không quá bất ngờ, khi trước đó trong cuộc họp với lãnh đạo 14 NHTM, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã đề cập nội dung này. Thống đốc cũng khẳng định hiện tại đã có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp tục giảm mức lãi suất điều hành. Có 2 vấn đề đặt ra trước mắt là phải giảm lãi suất và tăng cho vay nhưng phải giữ chất lượng tín dụng. Theo yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, các ngân hàng phải công bố gói giảm lãi suất cho vay và báo cáo về Vụ Chính sách tiền tệ trước ngày 12/4.
Một nội dung khác cũng rất được chú ý trong thông báo của NHNN là việc một số nội dung sử dụng vốn vay ra khỏi danh mục không khuyến khích, như giảm bớt một số quy định hạn chế đối với cho vay bất động sản, cho vay tiêu dùng. Đối với dư nợ cho vay chứng khoán được loại trừ dư nợ cho vay người lao động của công ty nhà nước để mua cổ phần IPO; Dư nợ cho vay BĐS được loại trừ nhu cầu vốn xây dựng, sửa chữa và mua nhà để ở kết hợp với cho thuê mà khoản vay được trả nợ bằng nguồn thu nhập không phải là tiền lương, tiền công của khách hàng vay; xây dựng, sửa chữa, mua bán nhà cho thuê, xây dựng các công trình dự án phát triển nhà ở trong khu đô thị. Dư nợ cho vay tiêu dùng loại trừ nhu cầu vốn để xây dựng, mua nhà để ở trả bằng tiền lương; mua phương tiện đi lại, mua đồ dùng, trang thiết bị gia đình, chi phí học tập và chữa bệnh trong nước. Tuy nhiên, NHNN vẫn giữ nguyên mức kiểm soát dư nợ cho vay đối với các lĩnh vực không khuyến khích (chứng khoán, bất động sản, cho vay tiêu dùng) dưới 16% tổng dư nợ cho vay.
Cơ sở để NHNN nhanh chóng hạ lãi suất, “bật đèn xanh” đối với một số lĩnh vực chính là tình hình thanh khoản của các NH đã khả quan hơn đáng kể so với cuối năm 2011. Ngoại trừ quan hệ với nhóm 9 NH yếu kém, hoạt động của thị trường liên NH đã ổn định hơn. Huy động vốn tăng khoảng 1,5 – 1,7%, trong khi tín dụng toàn ngành lại giảm 2,4%.
Các tín hiệu của nền kinh tế cũng cho thấy nguy cơ sản xuất đình đốn, DN phá sản, ngừng hoạt động, hoặc buộc phải thu hẹp sản xuất. Trong khi đó, thị trường bất động sản vẫn đóng băng kéo dài, có nguy cơ đẩy những khoản vay NH trở thành nợ xấu. Chỉ đạo cơ cấu nợ của NHNN, ngoài ý nghĩa hỗ trợ DN trong giai đoạn khó khăn, cũng là “phao” để các NH bấu víu để cơ cấu các khoản nợ xấu trong điều kiện nợ xấu có xu hướng tăng cao.
Về vấn đề nợ xấu, có thể phân tích một báo cáo của Bộ xây dựng, các con số dư nợ tín dụng sẽ thấy vấn đề bất thường: Các khoản tín dụng trong năm 2011 đều giảm, vay xây dựng khu đô thị là 24.618 tỷ đồng, giảm 13,08%; vay xây dựng, sửa chữa, mua nhà để ở là 54.285 tỷ đồng, giảm 26,97%; vay đầu tư, kinh doanh bất động sản khác là 38.875 tỷ đồng, giảm 36,23% so với cuối năm 2010. Điều này có vẻ phù hợp với định hướng cắt giảm tín dụng phi sản xuất của NHNN. Nhưng lại có các con số khác cho thấy một cách nhìn khác: vay xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất là 13.877 tỷ đồng, tăng 5,74%. Đặc biệt vay xây dựng, sửa chữa, mua nhà để bán, cho thuê là 23.453 tỷ đồng, tăng 76,6% so với 31/12/2010. Vay xây dựng văn phòng cho thuê là 32.573 tỷ đồng, tăng 20,81%. Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh thắt chặt tín dụng bất động sản, tại sao có mức tăng bất thường như thế? Có một sự chuyển hoá, đảo nợ nào đã êm thấm diễn ra?
Trên sổ sách, đảo nợ tạo cho người ta cái ảo giác về các khoản nợ được hoàn trả tốt, tỷ lệ nợ xấu hay nợ quá hạn giảm xuống, nhưng thực chất các khoản vay đó không hề tốt lên. Các khoản vay có nguy cơ trở thành nợ xấu sẽ được bù đắp bằngmột khoản vay mới, DN sẽ trả nợ đúng hạn, NH không có nợ xấu, nhưng thực chất khoản nợ vẫn còn đó. DN thực sự vẫn không có tiền trả nợ, cũng không có tiền mới đề tạo ra thu nhập trả nợ, vấn đề chỉ là họ có thêm một khoảng thời gian.
NHNN cũng ý thức rõ vấn đề này hơn ai hết, trong thông báo, cơ quan này yêu cầu các TCTD phải tăng cường kiểm tra, kiểm toán nội bộ về chất lượng tín dụng, kịp thời phát hiện khách hàng có biểu hiện khó khăn trả nợ để có biện pháp xử lý phù hợp nhằm hạ chế rủi ro phát sinh và đảm bảo an toàn hoạt động tín dụng, quyết liệt xử lý nợ xấu, không được sử dụng các biện pháp nghiệp vụ chưa phù hợp với quy định của pháp luật nhằm che dấu nợ xấu.
Không khác mấy tình hình gần cuối quý 2/2011, những tháng cuối năm trước lại rộ lên hàng loạt dự báo và đồn đoán về nguy cơ sụt mạnh của giá nhà đất ở khu vực phía Nam. Luồng thông tin suy đoán này còn được củng cố một cách chắc chắn bởi hiện tượng giảm mạnh giá bán căn hộ ở các dự án Petro Ladmark thuộc quận 2 và An Tiến ở huyện Nhà Bè tại TP.HCM.
Nhưng cũng chẳng khác với thời điểm 30/6/2011, ngày 31/12 cùng năm đã lặng lẽ trôi qua mà không chứng kiến một làn sóng "chạy loạn" nào của các doanh nghiệp BĐS. Lại càng không có lấy một ngân hàng nào kêu cứu về chuyện hụt thanh khoản từ nợ khó đòi.
Cuối cùng, những tỷ lệ dư nợ tín dụng phi sản xuất ở mức 22% và 16% chỉ là khái niệm mang tính tượng trưng. Về thực chất, hoạt động đảo nợ đã diễn ra một cách êm thắm và phổ biến vào cả hai thời điểm trên.
Bảo Châu