10:58:11 | 17/5/2012
Tính đến nay, có khoảng 17% số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động và 4,4% số các doanh nghiệp giải thể để chuyển đổi ngành nghề sản xuất kinh doanh, gần 4,7% số doanh nghiệp giải thể là để mua bán sáp nhập với các doanh nghiệp khác, 10,3% số các doanh nghiệp giải thể để thành lập doanh nghiệp mới.
Đây là một phần trong báo cáo mới đây của VCCI trình Thủ tướng chính phủ về tình hình hoạt động của DN VN trong giai đoạn vừa qua. Báo cáo cho thấy, chặng đường khó khăn đối với các DN ở phía trước vẫn còn nhiều…
Chi phí cao và thị trường thu hẹp
Theo Chủ tịch VCCI- Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, trong năm 2011 và đặc biệt là quý I năm 2012, các chỉ số về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng xấu đi, đặc biệt là chỉ số về lợi nhuận, doanh số, hàng tồn kho, hiệu suất sử dụng máy móc và số lượng lao động. Tỷ lệ các doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất và giải thể trong năm 2011 và quý I năm 2012 chiếm 8,4% (trong đó ngừng sản xuất chiếm 4,3% và giải thể là 4,1%). Phần lớn các doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể là do kinh doanh thua lỗ, nhưng cũng có những lý do khác. Một số doanh nghiệp ngừng hoạt động hay giải thể một cách chủ động do yêu cầu của quá trình tái cấu trúc.

Một điều đáng lưu ý là trong khi tỷ lệ doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nước ngừng hoạt động hoặc giải thể chiếm tới trên 9,2% thì khu vực FDI chỉ có gần 2,6%. Điều này có thể lý giải là do khu vực FDI gắn với chuỗi giá trị toàn cầu, có thị trường tiêu thụ ổn định, có khả năng tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ với chi phí thấp, có khả năng quản trị kinh doanh bài bản nên có khả năng trụ vững tốt hơn.
Theo phản ánh, tình hình chung của các doanh nghiệp là rất khó khăn. Mà khó khăn lớn nhất là chi phí sản xuất kinh doanh tăng cao (chủ yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và giá vốn cao) và khó khăn về thị trường tiêu thụ thu hẹp (do sức mua giảm mạnh), lượng hàng tồn kho lớn và tập trung chủ yếu ở một số ngành như bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến, chế tạo,thương mại, vận tải kho bãi…
Trong bối cảnh đó, báo cáo của VCCI cho biết, cộng đồng doanh nghiệp mong muốn các nỗ lực điều hành chính sách của Chính phủ tập trung vào việc giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, cũng như hỗ trợ giải quyết vấn đề thị trường đầu ra song song với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và tạo niềm tin cho doanh nghiệp.
Về triển vọng kinh doanh trong năm 2012, theo báo cáo, có tới 68,5% số doanh nghiệp có kế hoạch tiếp tục duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, 31,5% thu hẹp quy mô kinh doanh và một bộ phận trong số này có thể sẽ phải ngừng hoạt động hoặc giải thể). Trong quý I/2012, vẫn có hơn 18.700 doanh nghiệp mới được thành lập. Ông Lộc đánh giá, mặc dù bối cảnh kinh tế rất khó khăn và sự lạc quan có phần giảm sút, nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ vẫn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, một bộ phận doanh nghiệp có khả năng mở rộng quy mô.
Nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN
Theo dự báo của VCCI, trong thời gian tới, những doanh nghiệp có sức cạnh tranh yếu sẽ phải rút khỏi thị trường, đó cũng là yêu cầu của cải cách cơ cấu, bởi nguồn lực của VN không nhiều và các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp phải gắn với định hướng tái cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nên không thể dàn trải. Vì vậy, theo TS Vũ Tiến Lộc, định hướng chính sách vẫn phải tiếp tục nhằm hỗ trợ các đối tượng mục tiêu như Nghị quyết 11 của Chính phủ đã xác định. Đặc biệt, phải chú ý rà xét, xác định rõ và trợ giúp kịp thời các doanh nghiệp có tiềm năng về năng lực cạnh tranh và các dự án có hiệu quả (thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi quy mô) nhưng đang gặp phải những khó khăn tạm thời để doanh nghiệp có thể trụ vững và phát triển.
Về chính sách tài khóa và thị trường vốn, theo VCCI, cần tăng tiến độ phân bổ và giải ngân cho các dự án đầu tư công trong kế hoạch, bảo đảm cung ứng vốn cho các công trình, tạo việc làm cho các doanh nghiệp xây dựng và giải quyết đầu ra cho ngành vật liệu xây dựng, góp phần giải quyết hàng tồn kho cho các doanh nghiệp và sớm đưa các công trình vào sử dụng; giảm 30% đến 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2012 đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đẩy nhanh lộ trình giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống mức 20%.
Thực hiện các biện pháp khuyến khích thúc đẩy phát triển thị trường vốn để tạo điều kiện cho DN huy động nguồn lực xã hội thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu và thông qua quỹ đầu tư để đáp ứng nhu cầu đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước, tránh lệ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay từ ngân hàng như hiện nay (tới 80%).
Tuy nhiên, cần hạn chế phát hành nợ của Chính phủ (dưới hình thức trái phiếu và tín phiếu) để giảm sự chèn lấn đối với nợ của khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình. Hiện nay, việc phát hành trái phiếu và tín phiếu đang cung cấp một đầu ra an toàn cho các ngân hàng thương mại nhưng lại làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu vốn của doanh nghiệp và không giúp làm cho lãi suất giảm một cách tương ứng với tốc độ giảm của lạm phát.
Về chính sách tiền tệ và tín dụng, VCCI cho rằng, cần tiếp tục lộ trình giảm lãi suất một cách tích cực để giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp; các ngân hàng thương mại đẩy mạnh các biện pháp xử lý nợ xấu, theo hướng rà soát, phân loại nợ, cơ cấu lại các kỳ hạn trả nợ, tạo điều kiện tiếp tục cho vay vốn đối với các doanh nghiệp có dự án đầu tư có tác động kinh tế - xã hội lớn, có phương án kinh doanh đạt hiệu quả… Đặc biệt, cần tiếp tục cơ chế cho vay ngoại tệ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu để hạ thấp chi phí vốn nhằm duy trì sản xuất kinh doanh và giữ vững thị trường xuất khẩu.
Hỗ trợ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn vay với lãi suất hợp lý. Để triển khai việc này cần có các biện pháp tổng thể, không chỉ liên quan đến mức lãi suất mà cả thủ tục vay vốn, bảo lãnh tín dụng, tạo nguồn vốn và đảm bảo nguồn vốn đến đúng đối tượng được vay. Trước mắt, VCCI đề nghị tập trung vào việc cần sớm thành lập Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 56/ 2009- NĐ-CP tạo nguồn vốn đề ủy thác cho các ngân hàng thương mại cho vay đối với các DNNVV; Triển khai mô hình cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp cực nhỏ (dưới 10 lao động ) có kế hoạch kinh doanh khả thi và có các tiêu chí định mức tín nhiệm tin cậy với sự hợp tác của các hiệp hội; Rà xét, đánh giá để có biện pháp mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV của Ngân hàng phát triển Việt Nam và của các quỹ bảo lãnh tín dụng ở các địa phương…
Hiện nay thị trường tiêu thụ là vấn đề khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp. Để giải quyết việc này, theo VCCI, cần có biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp khai thác tốt thị trường trong nước, tiếp tục cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, phát triển thị trường nội bộ qua sự liên kết của các hiệp hội doanh nghiệp, hình thành các chuỗi liên kết ngành, vùng, nhất là ở vùng nông thôn. Đặc biệt, cần đẩy nhanh tiến độ đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương với các nước, các khu vực để mở của thị trường, bố trí tăng kinh phí và nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước tập trung vào các thị trường mới có tiềm năng…
Lan Anh