13:23:52 | 22/5/2012
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và dưới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhiều yếu kém của nền kinh tế Việt Nam được bộc lộ rõ nét. Hơn lúc nào hết, vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc doanh nghiệp đã trở nên cấp thiết để nền kinh tế Việt Nam phát triển ổn định, bền vững, nâng cao sức cạnh tranh, thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực. Nhằm giúp cho cộng đồng doanh nghiệp có cách nhìn nhận vấn đề thấu đáo hơn, từ đó giúp cho các nhà quản trị hoạch định những chính sách phù hợp cho doanh nghiệp mình, VCCI -HCM phối hợp với Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên Giai đoạn III (EU - Việt Nam MUTRAP III) tổ chức Hội thảo “Quản trị sự thay đổi trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và tái cấu trúc kinh tế Việt Nam”.
Theo Giáo sư. Tiến sĩ Võ Thanh Thu - Ủy viên Hội động tư vấn chính sách thương mại quốc tế của VCCI, Trọng tài viên trọng tài QT Việt Nam (VIAC), khủng hoảng kinh tế thế giới không ảnh hưởng nhiều đến kinh tế Việt Nam. Bằng chứng là tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 vẫn đạt 5, 2% (dự kiến 7 – 7,5%); năm 2010 là 6,78% (dự kiến 6,5%); năm 2011 là 5,89% và Việt Nam đứng trong top 5 nước trên thế giới có tốc độ tăng trưởng cao. Nền kinh tế Việt Nam ít chịu tác động của khủng hoảng chủ yếu do chúng ta phản ứng tức thời và nhanh chóng “giải cứu” sự suy thoái bằng gói kích cầu trị giá hơn 14.000 tỷ đồng; kèm theo đó là hàng loạt những phản ứng chính sách hợp lý, đặc biệt là Nghị quyết 30 của Chính phủ đã phát huy hiệu quả, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, hỗ trợ người dân thoát khỏi suy thoái.

Tuy nhiên theo Giáo sư. Tiến sĩ Võ Thanh Thu, trong sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều yếu tố không bền vững, dẫn đến sự sụt giảm hiệu quả phát triển trong dài hạn. Trong đó đáng lo ngại là sự tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư trong suốt giai đoạn 2003 – 2011. Lĩnh vực đầu tư đóng góp cho gia tăng GDP khoảng 52,7%, trong khi đó đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp chỉ chiếm khoảng 28,2% (chỉ số này ở các nước trong khu vực ASEAN là 35-40%, tại các nước phát triển là 60 – 75%). Vấn đề bất cập nhất là đầu tư công đang chiếm tỷ trọng lớn, lan sang cả những lĩnh vực mà đầu tư tư nhân có thể thực hiện, lấn át cơ hội đầu tư của kinh tế tư nhân, từ đó triệt tiêu dần những động lực phát triển của nền kinh tế. Theo thống kê, năm 2011 Việt Nam có tổng cộng 7.611 doanh nghiệp tuyên bố giải thể và 46.361 doanh nghiệp dừng hoạt động. 4 tháng đầu năm 2012, có đến 2.915 doanh nghiệp tuyên bố giải thể và 14.820 doanh nghiệp dừng hoạt động; trong đó Tp.HCM cò hơn 5.012 doanh nghiệp gửi thông báo ngưng hoạt động đến Cục thuế Thành phố (tăng 4,6 lần so với cùng kỳ năm 2011). Nguyên nhân chủ yếu do sức mua của thị trường trong và ngoài nước giảm, chi phí đầu vào tăng cao, trong khi đó doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng. Thống kê đến đầu tháng 5/2012, số nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại của Thành phố là 36.924 tỷ đồng.
Để đối phó với cơn bão khủng hoảng, theo Tiến sĩ. Phạm Văn Chắt – Báo cáo viên Bộ Công Thương về Chương trình Hội nhập kinh tế quốc tế, Trọng tài viên VIAC, yêu cầu cấp bách trong thời kỳ chiến lược tới của Việt Nam là thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế. Thực tế đã minh chứng những nước sớm thoát khỏi khủng hoảng hiện nay là những nước có thị trường trong nước phát triển mạnh mẽ. Các nước có nền kinh tế trong nước vững mạnh có thể vượt qua khủng hoảng nhanh hơn các nước khác ngay cả khi có các cú sốc kinh tế lớn cả bên trong lẫn bên ngoài, chứ không phải là những quốc gia đầu tư ra nước ngoài lớn.
Theo đó quá trình tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam phải diễn ra trên cả ba nội dung chính; trong đó chú trọng tái cấu trúc các ngành sản xuất, dịch vụ gắn với các vùng kinh tế, phát triển công nghiệp hỗ trợ. Phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, chú trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững. Ngoài ra Việt Nam cũng cần chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ sang tăng trưởng chủ yếu dựa vào áp dụng khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao. Quá trình này cần rất nhiều thời gian để doanh nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế nói chúng tích lũy vốn và phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo các nhân tố cho phát triển bền vững, theo chiều sâu.
Tiến sĩ. Lê Thẩm Dương cho biết quan trọng nhất trong tái cấu trúc nền kinh tế là phải thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng và hấp thụ vốn đầu tư của nền kinh tế. Để thực hiện điều này, cần tập trung tái cấu trúc doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNN theo hướng rà soát lại hệ thống DNNN, kiên quyết cắt bỏ các DNNN làm ăn thua lỗ.
Ngoài ra chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp với đầu tư, chuyển dịch để đầu tư, đầu tư để chuyển dịch. Tiến sĩ. Phạm Văn Chắt phân tích Việt Nam đã hình thành được những ngành hàng, mặt hàng chiến lược quan trọng như dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ, điện và điện tử…Tuy nhiên hầu hết các ngành hàng này, chúng ta chưa đầu tư vào công nghiệp phụ trợ nên hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài, phụ thuộc biến động giá nguyên liệu nhập khẩu nên hàng Việt Nam không thể cạnh tranh lại với Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia…. Với sản phẩm nông nghiệp, thế mạnh của Việt Nam, chúng ta chưa có chương trình, phương án cụ thể trong đầu tư chế biến sâu để nâng cao hàm lượng giá trị sản phẩm như các nước. Với dịch vụ, một số ngành như chứng khoán còn non trẻ, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng còn yếu, du lịch và xuất khẩu lao động cũng chưa có chương trình cụ thể để thực hiện có hiệu quả ngoài việc tuyên truyền qua các lễ hội. Chính vì vậy cần có chương trình, lịch trình cụ thể để chuyển dịch đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu, công nghệ phụ trợ. Ông Chắt nhấn mạnh: “Không đầu tư hợp lý cho đổi mới công nghệ và quy hoạch nuôi trồng thì Việt Nam chưa thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực sự có hiệu quả. Đây phải được coi là chìa khóa, là khâu then chốt nhằm tái cơ cấu nền kinh tế nước ta tăng trưởng bền vững.
Mỹ Châu