11:03:54 | 18/5/2012
Trên thực tế, mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đang bị giảm từ năm 2010. Trong đợt đánh giá năm 2011 các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng chưa đưa ra được nhiều tín hiệu tích cực về triển vọng nâng tín nhiệm của Việt Nam. Ông Hoàng Hải- Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho rằng, cần thiết phải nâng cao hệ số tín nhiệm quốc gia, góp phần làm giảm chi phí vay vốn trên thị trường vốn quốc tế cho cả Chính phủ và doanh nghiệp; đồng thời nâng cao uy tín của Chính phủ Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế.
Nâng tầm tín nhiệm quốc gia-cấp bách
Theo ông Hoàng Hải, trong thời gian khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu vừa qua, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới bị hạ mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Năm 2011 các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng chưa đưa ra nhiều tín hiệu tích cực về triển vọng nâng tín nhiệm của Việt Nam. Một số lý do mà các cơ quan xếp hạng tín nhiệm còn quan ngại về kinh tế Việt Nam là tình hình kinh tế vĩ mô chưa ổn định: lạm phát vẫn cao, dự trữ ngoại hối ở mức thấp, khu vực ngân hàng có nhiều rủi ro tiềm ẩn do chất lượng tài sản của ngân hàng có thể yếu đi do tăng trưởng tín dụng cao trong một thời gian dài.

Ngân hàng thế giới WB đã xếp hạng Việt Nam rơi từ thứ 90 xuống thứ 98/183 về môi trường kinh doanh năm 2011, còn S&P đã xếp hạng đối với tín dụng ngoại tệ và nợ ngắn hạn (nội và ngoại tệ) của Việt Nam ở mức BB- và B. Triển vọng đối với tất cả các mức xếp hạng đều được đánh giá là tiêu cực. Theo S&P, điều này phản ánh sự quan ngại về những bất ổn của nền kinh tế và thị trường tài chính trong ngắn hạn. Về điểm số BB- của Việt Nam, chuyên gia của S&P cho rằng nó phù hợp với một nền kinh tế tăng trưởng tốt, thị trường tài chính đang phát triển nhờ nỗ lực tái cấu trúc của Chính phủ… nhưng vẫn có mức thu nhập thấp, ẩn chứa nhiều bất ổn và bị lệ thuộc nhiều vào các mệnh lệnh hành chính.
Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc triển khai các biện pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội theo tinh thần của Nghị quyết 11 và đã đạt được kết quả ban đầu như: lạm phát đã dần dần tăng chậm lại, thâm hụt cán cân thương mại đã ở mức thấp nhất trong 5 năm qua, cán cân thanh toán đã quay trở lại thặng dư sau nhiều năm thâm hụt, tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã bớt khó khăn.
Mặc dù vậy, về phía các cơ quan xếp hạng tín nhiệm, họ thường rất thận trọng khi xem xét nâng bậc tín nhiệm cho một quốc gia. Họ cần thấy được những tiến bộ của nền kinh tế mang tính ổn định và bền vững qua một thời gian tương đối dài, khoảng từ 6 tháng đến 2 năm.
2 nhóm giải pháp chính
Hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam là chỉ số quan trọng cho các nhà đầu tư nước ngoài trong việc đánh giá chi phí vay mượn của Việt Nam tại thị trường vốn quốc tế. Việc Bộ Tài chính tiến hành nghiên cứu, xây dựng Đề án nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia được xem như một động thái khá tích cực. Ông Hoàng Hải nhận định, có thể nói, hệ số tín nhiệm của một quốc gia là một chỉ số có tính tham khảo ban đầu cho các nhà đầu tư khi có dự định đầu tư trực tiếp hay gián tiếp vào một quốc gia. Đối với việc huy động vốn thông qua thị trường vốn quốc tế thì hệ số tín nhiệm là một yếu tố ảnh hưởng lớn tới chi phí huy động vốn.
Hàng năm, bên cạnh nguồn vốn ODA, Chính phủ và doanh nghiệp của Việt Nam phải vay một lượng vốn lớn theo điều kiện vay thương mại để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển. Nhu cầu vay vốn theo điều kiện thương mại có xu hướng ngày càng tăng do nguồn vốn ODA trong tương lai sẽ giảm dần, vì Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình.
Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Đề án nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia, chia ra 2 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp thứ nhất là điều hành ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, bao gồm một loạt các cơ chế, chính sách lớn đã, đang và sẽ triển khai. Đây là các chính sách có tác động lớn đến toàn bộ nền kinh tế, nếu thực hiện triển khai tốt sẽ có tác động quyết định đến mức xếp hạng tín nhiệm của quốc gia.
Nhóm giải pháp thứ 2 là cải thiện chất lượng của công tác xếp hạng tín nhiệm, như thu thập, công bố thông tin, tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin công bố, tăng cường năng lực của cán bộ thực hiện công tác xếp hạng tín nhiệm...
Có thể nói, việc nghiên cứu xây dựng đề án này thể hiện nhận thức về tầm quan trọng của mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia; đồng thời, nhằm đưa ra những giải pháp cần phải triển khai thực hiện cả trong ngắn hạn và dài hạn, để đạt được mức xếp hạng tín nhiệm cao hơn trong thời gian tới. Điều này sẽ góp phần làm giảm chi phí vay vốn trên thị trường vốn quốc tế cho cả Chính phủ và doanh nghiệp; nâng cao uy tín của Chính phủ Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế.
Trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, mục tiêu nâng cao xếp hạng tín nhiệm là vô cùng khó, ngay cả ở những nước có nền kinh tế vững trên thế giới. Theo ông Hoàng Hải, hiện nay, mục tiêu nâng bậc xếp hạng tín nhiệm là cả một quá trình dài, không thể thực hiện “ngày một ngày hai” mà được.
Hương Giang